Bản án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng do nhiều bất cập mà 20 năm không thi hành, làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của người được thi hành án.

Thời gian qua, chúng tôi đã đăng loạt bài viết về một bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng do có nhiều bất cập, vướng mắc, nên hơn 20 năm không thi hành được, làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án (THA). Sau khi bài báo đăng tải cùng với đơn khiếu nại (KN) của công dân, Ban Chỉ đạo Cải cách Tư pháp Trung ương (CCTPTW) đã có văn bản chuyển Chánh án TANDTC xem xét giải quyết dứt điểm.

Nội dung vụ việc

Văn bản số 38-CV/BCĐCCTPTW ngày 23/6/2016 của Ban Chỉ đạo CCTPTW do Phó Trưởng ban Thường trực Lê Thị Thu Ba, ký nêu rõ: Căn cứ hồ sơ cho thấy, ngày 26/5/1979, bà Trần Phụng Hoàn và mẹ là bà Vương Thục Phân, ký giấy bán máy ép dép nhựa cho bà Sỳ Lý Cú, với giá 5.000 đồng, sau đó bà Cú nhập hộ khẩu vào nhà bà Hoàn và cho rằng bà đã mua toàn bộ căn nhà 112 Nguyễn Chí Thanh (NCT), phường 16 quận 11, TP.HCM, của bà Phân tại Giấy bán nhà ngày 31/5/1979, với giá 5 lượng vàng nhưng trên giấy tờ chỉ ghi 2.500 đồng để trốn thuế. Bà Hoàn và bà Phân chỉ thừa nhận việc bán máy ép dép nhựa, chứ không có việc bán nhà cho bà Cú. Theo bà Hoàn thì bà Cú đã tự làm thủ tục hợp pháp hóa nhà (bà Hoàn và các anh chị em của bà không biết).

Bản án sơ thẩm số 17/DSST ngày 29/11/1985 của TAND TP.HCM đã bác yêu cầu đòi nhà của bà Hoàn, công nhận quyền sở hữu (QSH) nhà số 112 NCT cho bà Cú; bà Hoàn và bà Phân được ở tầng gác trong thời hạn 2 năm. Bà Hoàn và bà Cú đều có đơn chống án.

Ban an 20 nam khong thi hanh duoc: Chuyen TANDTC giai quyet - Anh 1

Ban an 20 nam khong thi hanh duoc: Chuyen TANDTC giai quyet - Anh 2

Văn bản của Thường trực Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương

Bản án phúc thẩm số 13 ngày 20/6/1986, TANDTC tại TP.HCM đã quyết định công nhận QSH của bà Cú phần tầng trệt, một phòng phía sau gác lửng đúc lầu 1 và phần nửa sân thượng phía bên trái tiếp giáp với chân cầu thang. Gia đình bà Phân được sở hữu và sử dụng phần diện tích lầu 1 và phần nửa sân thượng phía bên phải. Bà Phân phải trả lại bà Cú 127.500 đồng (trị giá 1,5 lượng vàng 24K) tính đến tháng 6/1986.

Tại Quyết định số 01 ngày 6/1/1988, Sở Nhà đất TP.HCM đã hủy bỏ Giấy phép mua bán nhà giữa bà Cú và bà Phân, đề nghị Công an TP.HCM chuyển hộ khẩu của gia đình bà Cú về lại nhà 519 phường 21 quận Tân Bình, TP.HCM. Quyết định số 05 ngày 24/7/1990, Chánh án TANDTC đã kháng nghị bản án phúc thẩm nêu trên.

Tại bản án phúc thẩm số 61, ngày 1/2/1990, Ủy ban thẩm phán TANDTC đã quyết định hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, giao hồ sơ về cho TAND TP.HCM xét xử sơ thẩm để điều tra, làm rõ nguồn gốc căn nhà, làm rõ sự thật của việc mua bán nhà giữa bà Cú và bà Phân.

Bản án sơ thẩm sơ thẩm số 66 ngày 27/8/1991 của TAND TP.HCM đã quyết định: Không công nhận Giấy bán nhà ngày 31/5/1979 giữa bà Cú và bà Phân. Hủy Giấy phép số 426 ngày 14/6/1979 về hợp thức hóa nhà. Buộc gia đình bà Cú phải trả lại nhà cho bà Hoàn trong thời gian 3 tháng. Bà Cú có đơn chống án. Bản án phúc thẩm số 61 ngày 6/5/1992, TANDTC tại TP.HCM đã xử bác yêu cầu đòi nhà số 112 NCT của bà Hoàn, công nhận Hợp đồng mua bán nhà ngày 31/5/1979 giữa bà Phân và bà Cú.

Tại Quyết định số 27 ngày 25/4/1993, Chánh án TANDTC kháng nghị bản án phúc thầm số 61 nêu trên với nhận định: lô đất có căn nhà số 112 NCT do bà Hoàn đứng tên mua của bà Neo từ năm 1966. Việc bà Hoàn viết tên bà Phân trong tờ kê khai không phải là căn cứ để xác định chủ nhà đất của bà Phân, vì trong bản kê khai đó còn ghi rõ số bằng khoán nhà đất 112 NCT mà người đứng tên trên các giấy tờ là bà Hoàn. Giấy bán nhà ngày 31/5/1979 bằng chữ Việt mà bà Phân không biết chữ Việt, tuy có ký bằng chữ Trung Quốc của bà Phân nhưng trong các lời khai thì bà Phân không thừa nhận việc bán nhà cho bà Cú.

Tại Kết luận số 242 ngày 17/8/1993, Viện trưởng Viện KSNDTC nhất trí kháng nghị của Chánh án TANDTC, đề nghị Ủy ban thẩm phán TANDTC xét xử giám đốc thẩm để hủy án sơ thẩm, phúc thẩm, giao hồ sơ về TAND TP.HCM xét xử sơ thẩm. Bản án giám đốc thẩm số 135 ngày 26/9/1993 của TANDTC xử: Hủy bản án phúc thẩm số 61, hủy Hợp dồng mua bán nhà ngày 31/5/1979 giữa bà Phân và bà Cú; Giao hồ sơ về cho TAND TP.HCM để giải quyết việc thanh toán tiền giữa hai bên đương sự sau khi hợp đồng mua bán nhà bị hủy.

Bản án dân sự sơ thẩm số 50 ngày 26/5/1994 của TAND TP.HCM quyết định: Hủy hợp đồng mua bán nhà 112 NCT giữa bà Cú với bà Phân. Bà Phân có trách nhiệm thanh toán 66 lượng 1 chỉ 5 phân vàng 4 số 9 cho bà Cú. Bà Cú có trách nhiệm giao trả toàn bộ phần nhà đất đang ở tại 112 NCT cho bà Hoàn, bà Phân. Việc giao trả nhà được tiến hành ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Ông Trần Phụng Siêu, người được bà Phân ủy quyền, có đơn chống án. Bản án phúc thẩm số 81/DSPT ngày 4/5/1995 của TANDTC tại TP.HCM quyết định: Hủy hợp đồng mua bán nhà số 112 NCT giữa bà Phân và bà Cú; bà Phâncó trách nhiệm thanh toán 66 lượng 1 chỉ 5 phân vàng 9999 cho bà Cú. Bà Cú có trách nhiệm giao trả toàn bộ căn nhà 112 NCT cho bà Hoàn. Việc giao nhà và tiền bạc được tiến hành cùng một lúc và ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Quá trình giải quyết thi hành án

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các bên không yêu cầu THA ngay, bà Hoàn có đơn KN việc xét xử của Tòa án gửi Cục Quản lý thi hành án dân sự (THADS) Bộ Tư pháp năm 1996 (sau đó Bộ Tư pháp đã chuyển đơn đến TANDTC). Với khoản bà Phân có trách nhiệm thanh toán 66 lượng 1 chỉ 5 phân vàng 4 số 9 cho bà Cú, Cục THADS TP.HCM đã khôi phục thời hiệu để đưa ra thi hành, tuy nhiên khi THA chưa có kết quả thì bà Phân chết, không để lại di chúc để thực hiện nghĩa vụ trả vàng cho bà Cú, cơ quan Tòa án có văn bản khẳng định ông Siêu không có nghĩa vụ thanh toán thay bà Phân số vàng trên. Cục THADS TP.HCM đã đình chỉ THA.

Với khoản bà Cú trả nhà cho bà Hoàn, do bà Hoàn làm đơn yêu cầu THA khi đã hết thời hiệu và không chứng minh được trở ngại khách quan để có căn cứ khôi phục thời hiệu nên Cục THADS TP.HCM đã ra Quyết định số 1273/THA ngày 16/12/2005, không chấp nhận đơn xin khôi phục thời hiệu THA của bà Hoàn. Bà Hoàn có nhiều đơn KN đề nghị thi hành bản án số 81/DSPT ngày 4/5/1995.

Tổng cục THADS có nhiều văn bản trả lời, khẳng định không có cơ sở để thi hành. Do nguyên đơn có đơn KN từ năm 1996 đến nay, gửi các cơ quan Đảng, Nhà nước, KN về bản án cũng như quá trình THA nên Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Ủy ban Tư pháp Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Ban Nội chính Trung ương, Viện KSNDTC, Văn phòng Ban Chỉ đạo CCTPTW đã có Công văn gửi Bộ Tư pháp, đề nghị chỉ đạo giải quyết theo thẩm quyền, tuy nhiên, bản án đến nay vẫn không thể thi hành.

Ý kiến của Thường trực Ban Chỉ đạo CCTPTW

Thường trực Ban Chỉ đạo CCTPTW thấy rằng, qua diễn biến 8 lần xét xử, với phán quyết cuối cùng tại bản án phúc thẩm số 81/DSPT ngày 4/5/1995, đến nay bản án vẫn không thể thi hành.

Bà Hoàn là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà số 112 NCT nên các giao dịch giữa bà Phân và bà Cú về căn nhà đó (nếu có thật) là vi phạm quyền sở hữu của bà Hoàn. Các giấy tờ mua bán nhà và một số tài liệu do bà Cú cung cấp có nhiều yếu tố giả mạo, cơ quan chức năng đã giải quyết. Bản án phúc thẩm số 81/DSPT cũng đã không chấp nhận Giấy mua bán nhà giữa bà Phân và bà Cú, đồng thời tuyên hủy Hợp đồng mua bán nhà số 112 NCT giữa bà Phân và bà Cú là có cơ sở.

Tuy nhiên việc tòa án quyết định bà Phân phải giao vàng cho bà Cú, bà Cú giao nhà cho bà Hoàn được tiến hành cùng một lúc là khiên cưỡng, không có cơ sở, vì bà Hoàn mới là chủ sở hữu thực sự của căn nhà 112 NCT và là nguyên đơn kiện đòi nhà, không liên quan đến nghĩa vụ của bà Phân đối với bà Cú. Việc tòa tuyên như trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bà Hoàn và gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan THA và thực tế, đã không thể thi hành được bản án này. Vì vậy, cần xác định rành mạch và chính xác các quan hệ dân sự trong vụ án này mới đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu nhà 112 NCT.

Để bản án có thể thi hành trên thực tế, Thường trực Ban Chỉ đạo CCTPTW đề nghị Chánh án TANDTC, chỉ đạo xem xét lại bản án số 81/DSPT ngày 4/5/1995 của TANDTC tại TP.HCM, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ sở hữu nhà theo quy định pháp luật.

Bà Châu Ngọc Hinh (đại diện bà Hoàn) yêu cầu tiếp tục thi hành bản án số 81 vì đã bị cơ quan THADS cho rằng bà có đơn yêu cầu THA khi đã hết thời hiệu thi hành và không có căn cứ để khôi phục thời hiệu, Thường trực Ban Chỉ đạo nhận thấy, đây là vấn đề cần được xem xét kỹ, vì năm 1996, bà Hoàn đã có đơn gửi Cục quản lý THADS (nay là Tổng cục THADS) KN bản án và đã được Cục quản lý THADS chuyển cho TANDTC.

Như vậy, việc các cơ quan THADS cho rằng bà Hoàn không có đơn yêu cầu THA và năm 2006 bà có đơn nhưng đã hết thời hiệu yêu cầu để không tiến hành THA cho bà là có phần máy móc, vì bà Hoàn vẫn có đơn KN bản án để bảo vệ QSH của mình nên không có đơn yêu cầu THA ngay, cơ quan THA cũng không giải thích, hướng dẫn cho bà Hoàn về thời hiệu THA và việc xem xét lại bản án số 81/DSPT đã có hiệu lực là thuộc thẩm quyền của TANDTC, chứ không thuộc thẩm quyền của cơ quan THADS.

Thường trực Ban Chỉ đạo CCTPTW xin chuyển đến Chánh án TANDTC để xem xét giải quyết dứt điểm vụ việc này nhằm đảm bảo quyền lợi của đương sự, chấm dứt việc KN kéo dài và liên tục từ nhiều năm nay. Người dân địa phương tin tưởng với sự vào cuộc quyết liệt của các cơ quan có thẩm quyền, vụ việc sẽ kết thúc trong thời gian sớm nhất.

Minh Yến/KD&PL