Sa tử cung (sa sinh dục) tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, lao động của người bệnh. Tùy theo nguyên nhân gây bệnh mà áp dụng phương thuốc điều trị phù hợp.

Nếu bệnh do khí hư hạ hãm, với triệu chứng là mặt trắng nhợt, đoản hơi, sợ lạnh, tử cung tụt xuống, lưỡi nhạt, ít rêu, mạch hư yếu thì áp dụng bài cổ phương “Bổ trung ích khí thang” gồm: nhân sâm, sài hồ, đương quy, hoàng kỳ, thăng ma, bạch truật mỗi loại 12g và cam thảo chích, trần bì mỗi loại 8g. Những vị thuốc này có dược tính ngọt đắng ấm, đại bổ nguyên khí, ích huyết sinh tân, thăng dương khí tỳ, lợi thủy, tả nhiệt, tăng đề…

Bai thuoc Dong y dieu tri sa tu cung vo cung hieu qua - Anh 1

Khí huyết lưỡng hư, với triệu chứng vẻ ngoài xanh xao, sắc mặt trắng bệch, da khô, ăn ngủ không ngon; hoa mắt, chóng mặt, ù tai, đau đầu, nhức mỏi, phụ nữ kinh nguyệt chậm kỳ, ít và loãng; mệt mỏi, tiếng nói nhỏ, hơi thở yếu; lưỡi bè, chất lưỡi nhợt, rêu trắng dày; mạch trầm nhược, vô lực; tử cung sa ra ngoài, sắc trắng nhợt. Trường hợp này dùng bổ khí huyết thăng đề, phương dược “Bát trân thang” gia vị, gồm: nhân sâm, bạch linh, bạch truật, đương quy, bạch thược, hoàng kỳ, thăng ma mỗi loại 12g; cam thảo, xuyên khung mỗi loại 8g và 16g thục địa.

Thận hư, triệu chứng là tử cung sa ra ngoài, đau mỏi lưng đùi, tiểu nhiều lần, ù tai, hoa mắt, chất lưỡi hồng nhợt, mạch trầm nhược. Phép trị: tư bổ thận dương, cố thoát thăng đề, phương dược “Thận khí hoàn”, gồm: phục linh, hoài sơn, đơn bì 12g mỗi loại; phụ tử chế, nhục quế 4g mỗi loại; 8g trạch tả; 15g sơn thù; 20g thục địa. Bài thuốc có tác dụng ôn bổ thận dương, dưỡng âm, dưỡng huyết; thanh huyết nhiệt, thanh thấp nhiệt; định tâm, an thần, lợi thủy thẩm thấp…

Bai thuoc Dong y dieu tri sa tu cung vo cung hieu qua - Anh 2

Thấp nhiệt, triệu chứng là cổ tử cung sưng đau; người nóng, miệng đắng chua, có nhớt; tức ngực, đêm bứt rứt khó ngủ; tiêu bón, tiểu vàng sậm, rát đau; mạch hoạt sắc. Dùng thanh thấp nhiệt thăng đề, phương dược “Long đởm tả can thang”, gồm: hoàng cầm, chi tử, trạch tả, mộc thông, sài hồ mỗi loại 8g; long đởm thảo, đương quy 12g mỗi loại; xà tiền tử, cam thảo mỗi loại 4g. Tác dụng: tả phế hỏa, thanh thấp nhiệt, giáng thanh hỏa, lợi tiểu, thông mạch, dưỡng huyết, hoạt huyết, trục thủy, táo thấp…

Cách dùng các bài thuốc trên là sắc uống mỗi ngày một thang, xa bữa ăn, uống từ 20-30 thang. Phương dược áp dụng tùy theo thể bệnh lâm sàng, có thể kết hợp thuốc dùng ngoài. Dùng chỉ xác nấu nước xông, khi xông xong đã nguội, dùng ngâm rửa hai-ba lần/ngày hoặc dùng ô mai sắc lấy nước xông, để nguội rửa hai-ba lần/ngày. Với bệnh cảnh thấp nhiệt, dùng khổ sâm, sa xàng tử, sinh hoàng bá, hoàng liên, bạch chỉ, khô phàn sắc lấy nước, để nguội rửa hai-ba lần/ngày.

Nguyễn Cẩm

(Theo BS Ngô Thị Bạch Yến, khoa Khám bệnh, BV Y học Cổ truyền TP.HCM)