Ho do táo nhiệt y học cổ truyền gọi đàm nhiệt khái thấu. Nguyên nhân do khí trời táo nhiệt, lại gặp phải người vốn nhiệt tạng, đờm với nhiệt quấn quýt lấy nhau phát sinh bệnh.

Ho do táo nhiệt y học cổ truyền gọi đàm nhiệt khái thấu. Nguyên nhân do khí trời táo nhiệt, lại gặp phải người vốn nhiệt tạng, đờm với nhiệt quấn quýt lấy nhau phát sinh bệnh. Bệnh nhân phát sốt rồi sinh ho, đờm nhiều và dính đặc, sắc vàng như mủ, hơi thở gấp; trong người bức bách khó chịu, mạch phù, hoạt, rêu lưỡi vàng và nhờn bẩn...

Ho do nhiệt hay gặp trong bệnh ho gà, viêm phổi, viêm khí quản, áp-xe phổi mủ, tâm phế mạn, hen suyễn...

Dùng bài Tả bạch tán gồm: tang bạch bì 40g, địa cốt bì 40g, sinh cam thảo 20g. Ba vị sấy khô tán bột mịn. Mỗi lần dùng 20g bột cùng với 20g gạo tẻ, 30 lá trúc diệp, đun với 2 bát nước, cạn còn 1 bát, bỏ bã, uống nóng 1 lần. Gia giảm: nếu có sốt gia tri mẫu 12g, hoàng cầm 12g.

Nếu sốt đã giảm, đờm loãng dễ ra; trong người bớt bức bách khó chịu, khát nước, rêu lưỡi vàng nhờn nên dùng bài Thanh phế thang gồm: mạch môn đông 12g, tri mẫu 12g, cam thảo 4g, hoàng cầm 8g, thiên môn đông 12g, bối mẫu 12g, quất hồng 4g, tang bạch bì 12g. Các vị cho vào nồi, đổ 3 bát nước, đun cạn còn 1 bát, bỏ bã, uống 1 lần.

Bai thuoc chua ho do tao nhiet - Anh 1

Ho do táo nhiệt (đàm nhiệt khái thấu) hay gặp trong viêm khí quản, viêm phổi, tâm phế mạn, áp-xe phổi.

Nếu người vẫn sốt, đau đầu, ho khan, khí nghịch mà suyễn, ngực đầy tâm phiền, họng khô mũi ráo, lưỡi khô không rêu, mạch hư đại mà sác; hay gặp ở viêm phế quản, giai đoạn phục hồi sau viêm phổi, họng tê mất tiếng;

Dùng bài Thanh táo cứu phế thang: thạch cao 20g, tang diệp 12g, hạnh nhân 12g, a giao 12g, tỳ bà diệp 12g, cam thảo 4g, nhân sâm 12g, hồ ma 12g, mạch môn đông 20g. Đun với 5 bát nước, cạn còn 2 bát, bỏ bã, chia uống 2 lần. Gia giảm: đờm nhiều, thêm bối mẫu 12g, qua lâu 12g; huyết khô gia sinh địa 24g; nhiệt nhiều, thêm thủy ngưu giác 12g, linh dương giác 4g hoặc thêm ngưu hoàng 4g.

Nếu đại tiểu tiện bí và sáp, suyễn thấu mãi không dứt, đờm đặc dính, sắc vàng, đó là nhiệt nhiều.

Dùng bài Nhân sâm tả phế thang: sơn chi 12g, liên kiều 12g, đại hoàng 12g, chỉ xác 4g, nhân sâm 8g, cát cánh 3g, bạc hà (để riêng) 4g, hoàng cầm 12g, cam thảo 4g, hạnh nhân 12g, tang bì 12g. Đun với 3 bát nước, cạn bớt 1 bát, bỏ bạc hà vào, đun cạn 1 bát, bỏ bã, uống làm 1 lần.

Nếu tới thời kỳ nhiệt thịnh làm hại tới phế lạc, mỗi khi ho bật ra máu tươi... Dùng bài Ngọc nữ tiễn hoặc Thái bình thang:

Thái bình thang: thạch cao sống 40g, bạch mao căn 40g, sinh địa 40g, ngẫu tiết thán 40g, đại hoàng thán 12g. Đun với 1 bát đồng tiện và 3 bát nước, cạn còn 2 bát, bỏ bã. Chia uống 2 lần.

Ngọc nữ tiễn: sinh thạch cao 24g, tri mẫu 12g, mạch đông 16g, sinh địa 32g, ngưu tất 12g. Đun với 5 bát nước còn 2 bát, bỏ bã, chia uống 2 lần.

Bài Ngọc nữ tiễn vừa chỉ huyết lại kiêm cả bổ; bài Thái bình thang chuyên chỉ huyết mà không bổ. Nếu trong đờm có huyết hình thể hư thì uống bài Ngọc nữ tiễn, hình thể thực thì uống Thái bình thang.

Lương y Thảo Nguyên