Giới trẻ chiếm đa số trong số người sử dụng mạng xã hội hằng ngày, cũng là những người chịu tác động nhiều hơn từ đó, cả hay và dở. Bởi vậy, khi tìm cách hạn chế ảnh hưởng xấu từ mạng xã hội đối với những người trẻ, điều quan trọng là tìm hiểu cơ chế tác động, những trào lưu, xu hướng chủ đạo để có thể đề ra giải pháp phù hợp.

Tầm ảnh hưởng rộng lớn

Vì nhiều nguyên nhân, đặc biệt là điều kiện kinh tế hạn chế, mạng xã hội vào Việt Nam chậm hơn nhiều nước phát triển khác, nhưng không vì thế mà có thể đánh giá thấp tầm ảnh hưởng của mạng xã hội đối với người dân. Điều đáng tiếc là trong khoảng mười năm qua, có vẻ như chúng ta chưa nhận thức đúng mức, đầy đủ về tầm quan trọng và sức tác động của mạng xã hội. Không có nhiều cuộc khảo sát hay đề tài nghiên cứu được thực hiện với sự đầu tư đủ để nhận diện kỹ lưỡng một vấn đề nay đã rõ là có sức ảnh hưởng lớn đối với đời sống xã hội. Vài năm trở lại đây, một số cuộc khảo sát và đề tài nghiên cứu quy mô hạn chế đã được thực hiện, giúp cho mảng màu chính trong bức tranh mạng xã hội ở Việt Nam không còn quá mù mờ.

Bai cuoi: Huong vao gioi tre - Anh 1

Một chương trình tư vấn giúp con vượt khỏi vùng nguy hiểm trên mạng xã hội ở TP Hồ Chí Minh.
Ảnh: Hoài Nam

Vào năm 2014, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam đăng bài viết của tác giả - TS Trần Thị Minh Đức và TS Bùi Thị Hồng Thái thuộc Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội). Bài viết có tiêu đề “Sử dụng mạng xã hội trong sinh viên Việt Nam”, thông tin kết quả nghiên cứu về thực trạng sử dụng mạng xã hội trong sinh viên, vấn đề bảo mật thông tin trên mạng xã hội, nhu cầu sử dụng mạng xã hội, những áp lực mà sinh viên có thể gặp phải khi sử dụng mạng xã hội. Kết quả nghiên cứu và số liệu điều tra dựa trên bảng hỏi đối với hơn 4.000 sinh viên ở 6 thành phố lớn tại Việt Nam là Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, Vinh cho thấy: 99% số sinh viên được hỏi cho biết họ có sử dụng mạng xã hội; 86,6% chọn facebook. Đa số thường bỏ ra khoảng 3 giờ/ngày để “lên phây” (43,5%), nhiều người dành tới 3 - 5 giờ/ngày cho việc này (31,5%) và đáng lưu ý là có tới 7,2% cho biết thường bỏ ra hơn 8 giờ/ngày để lên mạng - những con số rất lớn nếu so với khoảng thời gian mỗi ngày mà sinh viên của nhiều nước khác dành cho mạng xã hội.

Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, sinh viên còn khá chủ quan khi chia sẻ thông tin cá nhân trên mạng và bởi vậy, luôn phải đối diện với nguy cơ bị lừa gạt, quấy rối tình dục; sinh viên có nhu cầu sử dụng mạng xã hội càng cao thì càng có nhiều nguy cơ chịu áp lực từ mạng xã hội…

Cần có kỹ năng tự bảo vệ

Thông tin trên mạng xã hội, như đã thấy, có từ nhiều nguồn và nhìn chung là rất khó kiểm chứng về độ xác thực, trừ khi người đưa chúng lên mạng có dẫn nguồn cụ thể. Hơn nữa, do không chịu áp lực từ các rào cản pháp lý như các cơ quan báo chí được cấp phép, chất lượng thông tin trên mạng xã hội tùy thuộc vào trình độ hiểu biết, trách nhiệm xã hội và lương tâm của người cung cấp chúng. Thực tế cho thấy có nhiều người đã sử dụng mạng xã hội như một loại phương tiện đắc lực để trục lợi. Họ có thể cung cấp thông tin sai lệch về chất lượng hàng hóa nhằm tìm kiếm người mua nhẹ dạ và thiếu hiểu biết, “ném đá” đối thủ cạnh tranh và tạo ra làn sóng tẩy chay bằng những đòn đánh “dưới thắt lưng”. Một số trang thông tin được lập trên facebook mà ở đó, thường chỉ thấy thông tin về scandal, bê bối tình dục và sự mời gọi sử dụng dịch vụ “nhạy cảm”…

Trong bối cảnh nói trên, khi mà sự điều tiết nhằm bảo đảm chất lượng thông tin trên mạng xã hội là điều không thể thực hiện, vì nhiều nguyên nhân, nhiều người có thể bị tổn thương, thậm chí là gặp nguy hiểm khi tiếp cận với mạng xã hội mà không có đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết để tự bảo vệ mình. Tự tử vì bị chê bai trên mạng xã hội, hẹn thanh toán nhau chỉ vì mâu thuẫn nhỏ khi tương tác trên mạng ảo, bị lừa tiền chỉ vì trót đặt niềm tin vào một người mới quen qua facebook… Đó đều là những việc đã xảy ra trong đời thực, phần lớn nạn nhân là người trẻ, có khi chỉ ở độ tuổi trung học cơ sở, cho thấy sự cần thiết phải tìm cách trang bị kỹ năng sống, kỹ năng ứng xử và khả năng nhận biết mối nguy hiểm khi duy trì các mối quan hệ ảo và thực cho lớp trẻ. Theo PGS.TS Trịnh Hòa Bình: “Mạng xã hội mang tính ảo nhưng hậu quả từ nó là thật. Ở đây, trách nhiệm của nhà trường, xã hội, gia đình là phải theo sát được tình cảm, tâm tư, xu hướng, thậm chí là xu hướng quá khích của người trẻ, để từ đó có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp”.

Theo TS Trần Thị Minh Đức và TS Bùi Thị Hồng Thái, dù không thể phủ nhận lợi ích của mạng xã hội khi giúp giới trẻ mở rộng các mối quan hệ, tăng cường tri thức và sự hiểu biết cũng như thỏa mãn một phần nhu cầu giải trí nhưng chúng ta cần định hướng cho giới trẻ trong việc sử dụng mạng xã hội - ở những vấn đề liên quan tới thời gian sử dụng phù hợp, cách thức bảo vệ bản thân… Mặt khác, do sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội và số người sử dụng loại dịch vụ này càng nhiều, sự phát sinh những tình huống gây hại cho cá nhân và cộng đồng ngày một rõ nên rất cần có những dự án nghiên cứu tiếp theo về vấn đề này, tạo cơ sở cho việc đề ra giải pháp đúng cho vấn đề.

Mạng xã hội tạo ra ảnh hưởng lớn đến người sử dụng nói chung, giới trẻ nói riêng, cả theo hướng tích cực và tiêu cực. Để mạng ảo không gây ra hậu quả thật, trước hết, mỗi người cần có ý thức đúng đắn khi tham gia mạng xã hội, không chạy theo trào lưu lệch chuẩn và cẩn trọng trước mỗi lần kết bạn cũng như thực hiện một cú like.

Đức Huy - Nguyên Cương