Tưởng rằng mô típ gái giả trai đi thi, gái giả trai để tránh hoạn nạn chỉ có trong truyện kể dân gian, truyện thơ nôm và chèo cổ của dân tộc, nhưng trên thực tế lịch sử, vào thời nhà Mạc đã có một nhà khoa bảng là nữ. Nguyễn Thị Duệ - Nữ Tiến sĩ duy nhất trong lịch sử khoa cử phong kiến Việt Nam được vua Mạc Kính Cung tuyển làm phi, đặt hiệu là Tinh Phi (Sao Sa), dân gian gọi là Bà chúa Sao Sa. Bà là người nghĩ ra mô hình đào tạo từ xa. Tháp mộ Tinh Phi là một trong Chí Linh bát cổ.

Ba chua Sao Sa: Nu khoa bang duy nhat - Anh 1

Đền thờ Tiến sĩ – Bà chúa Sao Sa Nguyễn Thị Duệ.

Mô típ gái giả trai trong nghệ thuật

Mô típ gái giả trai xuất hiện trong các truyện thơ nôm và chèo cổ truyền thống ở Việt Nam thế kỷ 18 và 19 có thể tới ba tác phẩm nổi tiếng như: “Quan âm Thị Kính”, “Nữ Tú tài”, “Phương Hoa”. Trong đó truyện và chèo “Quan âm Thị Kính” đã trở thành tác phẩm kinh điển. Trải bao gian truân, khổ ải, từng phải giả trai làm chú tiểu Kính Tâm nương nhờ cửa chùa mà vẫn bị vu vạ làm Thị Mầu mang thai. Đến khi bị bạo bệnh mất thì người ta mới biết Kính Tâm là Thị Kính. Xúc động trước nỗi oan khuất, người dân đã tôn Thị Kính là Quan âm.

Về mô típ gái giả trai thi đỗ Tiến sĩ thì có truyện nôm và chèo cổ “Phương Hoa”. Nữ nhân vật Phương Hoa là con gái quan Ngự sử Trần Điện. Từ bé, Phương Hoa đã được cha đính hôn với Cảnh Yên - con trai quan Thượng thư Trương Đài. Thế nhưng, mối lương duyên bị phá bởi Viên quan họ Tào (Tào trung úy) – viên gian thần được vua sủng ái. Không lấy được Phương Hoa, Tào Trung Úy bèn giả mạo chiếu chỉ nhà vua khép Trương Đài vào tội “vong thần mại quốc”, giết ông rồi còn chiếm đoạt hết tài sản.

Phương Hoa lập mưu báo thù. Nàng giả trai và lấy tên là Cảnh Yên đi thi, đỗ Tiến sĩ. Khi vào chầu, Phương Hoa tấu trình mọi oan ức. Tào Trung Úy bị xử trảm. Cảnh Yên được làm bài văn sách do vua ra đề. Xét văn vua chấm cho Cảnh Yên đỗ Tiến sĩ. Và hai tiến sĩ đã làm lễ thành hôn.

Giấc mộng nên duyên

Nữ Tiến sĩ triều Mạc - Nguyễn Thị Duệ (1574 - 8/11/1654) có tên khác là Du, Ngọc Toàn hiệu là Diệu Huyền. Bà được thờ trong Văn miếu Mao Điền, Hải Dương với bài vị ghi: “Nghi ái quan Nguyễn Thị Duệ”…

Trước đó, gần một trăm năm, cũng ở tỉnh Hải Dương có bà Bùi Thị Hý cháu nội khai quốc công thần Bùi Quốc Hưng cũng đã giả trai đi thi nhưng chỉ đỗ Tú tài vào kỳ thi năm 1442.

Nguyễn Thị Duệ quê làng Kiệt Đặc, (nay đổi là phường Văn An, thị xã Chí Linh, Hải Dương). Kiệt Đặc nghĩa chỉ mảnh đất sản sinh và che chở những con người kiệt xuất. Ngoài bà Nguyễn Thị Duệ, vùng quê Kiệt Đặc, còn có 7 vị khác đỗ đại khoa (đều họ Nguyễn). Kiệt Đặc cũng là nơi có 4/8 di tích nằm trong danh tụng Chí Linh bát cổ. Chí Linh bát cổ là: Trạng nguyên cổ đường (đền thờ Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi); Tiều ẩn cổ bích (nơi thầy Chu Văn An ở ẩn); Dược Lĩnh cổ viên (Vườn thuốc trên núi Nam Tào mà Trần Hưng Đạo giao cho Phạm Ngũ Lão quản lĩnh); Nhạn Loan cổ độ (Nơi bến sông cổ từ thời An Dương Vương bị Triệu Đà truy đuổi đã qua bến sông này); Thượng Tể cổ trạch (đền thờ Thượng tể Trần Quốc Chẩn); Phao Sơn cổ thành (thành cổ Phao Sơn); Vân Tiên cổ động (chùa cổ Huyền Thiên); Tinh Phi cổ tháp (tháp mộ bà Tinh Phi – tức bà Nguyễn Thị Duệ).

Sinh ra trong gia đình nhà Nho, ham học nên thủa nhỏ, Nguyễn Thị Duệ được gia đình cho mời thầy họ Cao về dạy học. Với chí hướng khác thường nên khi đến tuổi trăng tròn, có ông Nguyễn Quý Nha làm quan trong triều nhờ mối lái đến hỏi làm vợ nhưng bị cô Duệ khước từ.

Năm 1592, triều đình Lê – Trịnh chiếm được Thăng Long, triều đình nhà Mạc phải rút về phía Đông thuộc trấn Hải Dương, trọng điểm là vùng Nam Sách. Không biết lúc đó, cha của Nguyễn Thị Duệ làm gì cho triều đình nhà Mạc, nhưng chỉ biết năm 1593, gia đình cô theo nhà Mạc chạy lên Cao Bằng lập căn cứ. Năm Giáp Ngọ (1594), nhà Mạc tiến hành mở khoa thi Hội tại Cao Bằng. Sĩ tử ứng thí rất đông. Nguyễn Thị Duệ giả trai lấy tên là Nguyễn Văn Du rồi cùng thầy Cao đi thi. Sau khi chấm bài, ghép phách, Nguyễn Văn Du đỗ đầu, thầy Cao đỗ Á khoa (thứ hai). Thầy giáo họ Cao cảm khích: “Màu xanh từ màu lam mà ra, nhưng đẹp hơn màu lam”.

Thế rồi, sự việc bị phát hiện một cách tình cờ. Dân gian truyền tụng rằng đêm trước buổi tiệc mừng các vị tân khoa, vua Mạc Kính Cung mộng thấy có một ông nghè là gái. Hôm sau, khi ban yến, vua để ý các vị tân khoa và thấy diện mạo Nguyễn Văn Du có vẻ là gái. Vua bèn xét hỏi. Nguyễn Thị Duệ đành thú tội. Vua không bắt tội mà còn lấy làm phi, đặt hiệu là Tinh Phi tức là Sao Sa, có ý ví bà như ngôi sao trên trời vừa đẹp vừa tài sa xuống?. Dân gian vì thế cũng gọi luôn là Bà chúa Sao Sa.

Năm 1625, quân Lê Trịnh tiến đánh Cao Bằng, quân Mạc đại bại. Tinh Phi Nguyễn Thị Duệ đang ẩn trong hang núi bị quân Trịnh bắt được. Trước tình cảnh nguy nan, Tinh Phi vẫn bình tĩnh, nói: “Các ngươi bắt được ta thì phải đưa ta đến nộp chúa của các ngươi, nếu vô lễ thì với lưỡi gươm này ta sẽ tự xử mà các ngươi rút cục cũng chẳng được công trạng gì”. Quân Trịnh bèn giải bà về nộp chúa Nghị Vương, được chúa rất sủng ái.

Những năm sau đó, vùng Kiệt Đặc được hưởng hồng phúc từ bà. Nhiều thứ thuế và phu sai tạp dịch được miễn. Sự việc này cũng được ghi trong bia chùa Phổ Chiếu ở Kiệt Đặc, khắc dựng năm Thịnh Đức nguyên niên (1653) khi bà còn sống.

Mô hình đào tạo từ xa

Chúa Trịnh Tạc mời Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ đến dạy cho cung nhân, gọi là Đức lão Lễ sư. Bất cứ điều gì, bà đều lấy văn chương cung phụng. Mỗi khi chúa có việc cần hỏi, bà đều dẫn kinh sử, sự tích xưa nay để đối đáp. Chúa thường khen ngợi. Ngay cả đến vua Lê Thần Tông cùng phong bà là Nghi Ái Quan và tin tưởng giao bình duyệt quyển thi Hội. Bà cũng thường xuyên tiếp xúc với những người nổi tiếng đương thời như: Giang Văn Minh, Nguyễn Đăng Cảo, Khương Thế Hiền…

Khoa Tân Mùi, năm (1631), Nguyễn Minh Triết văn chương ý nghĩa sâu sắc được chúa chấm đỗ đầu. Tìm hiểu mới biết Triết là em họ bà Nguyễn Thị Duệ. Bản thân Nguyễn Minh Triết cũng nói: “Văn của ta cả triều không ai hiểu hết đâu, chắc chỉ có có chị ta là Lễ sư hiểu hết thấu thôi”.

Theo nhà nghiên cứu Tăng Bá Hoành (nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Hải Dương): Bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Duệ đã nghĩ ra mô hình đào tạo từ xa. Đó là việc mỗi tháng hai kỳ, bà sai người làm cỗ, họp sĩ tử tư văn hàng huyện lại, cho tập làm văn. Đề bài do bà ra. Sĩ tử làm xong thì Hội viên Hội tư văn niêm phong lại, chuyển cho người đưa về kinh đô dâng bà. Tự bà chấm bài. Đúng hạn trả lại. Đăng tên những người có bài và điểm tại văn chỉ. Đến đời Trung Hưng, nhiều người đỗ đại khoa là nhờ từ bà, trong đó làng Kiệt Đặc có tới 3 người… Bà Duệ còn trích ra 10 mẫu ruộng của mình để thưởng cho những tân tiến sĩ của làng được luân phiên cày cấy, thu hoa lợi nhằm mục đích khuyến khích người sau gắng sức học tập.

Tương truyền, thời điểm khi còn Kiệt Đặc chưa theo nhà Mạc lên Cao Bằng, người anh của bà Duệ bị một người làng giết hại. Thế nhưng khi đã giàu sang, vinh hiển, có thế lực bà cũng không trả thù. Vì thế người đương thời ca ngợi bà là người đức độ.

Khi tuổi cao, bà về trụ trì chùa Vụ Nông, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Gần 80 tuổi, bà nhờ người xem đất, dựng một am nhỏ trước mộ tổ, trên một đỉnh đồi thấp dưới chân núi Phượng Hoàng, cách chùa Huyền Thiên 200m về phía Nam. Bà qua đời ngày 8/11/1654. Bà làm quan trải qua các triều Mạc, Lê và chúa Trịnh. Sau khi qua đời, di hài của bà được mai táng bên cạnh mộ tổ, trên xây một tháp hồng bằng đất nung, từ xa đã nhìn rõ. Tinh phi cổ tháp được người đời làm thơ ca ngợi:

Lạ thay một kính chiếu ba vương
Kiệt Đặc, tinh phi vốn cố hương
Đẹp tuyệt trần gian thêm sắc sảo
Đỗ đầu thi Hội nổi văn chương
Mất còn truyện ấy thây dâu bể
Mến trọng ơn này, tự phấn hương
Gia ký hai câu còn để lại
Tháp hoa đầu núi mấy tinh sương

Cổ tháp Tinh Phi bị hư hại nhiều từ đầu thế kỷ 19. Đến ngày 28/5/1987, cổ tháp bị kẻ gian đào trộm tìm của. Các nhà khảo cổ học đã kịp thời về khai quật để nghiên cứu. Ngôi mộ kiểu trong quan ngoài quách. Phần di cốt đã phân hủy, chỉ còn một phần nhỏ và một số đồ tùy táng, trong đó có một kẹp trầu bằng đồng thau. Quách bằng đá sa thạch được gia công vuông thành sắc cạnh như gỗ xẻ, ghép bén sát, có kích thước 220 x 75 78 cm. Trên mặt đất còn nhiều ngói mũi hài cỡ lớn, di tích của am và tháp…

Hiện nay, tại đình Kiệt Đặc còn một pho tượng khá đẹp, gọi là tượng vua Bà, tức tượng Nguyễn Thị Duệ. Cùng một đạo sắc phong thời Nguyễn.

Từ Khôi