Để đảm bảo tính hiệu quả cho khung quản lý rủi ro, các NH phải thực hiện đầy đủ 3 lớp phòng vệ. Đó là sở hữu rủi ro; xem xét và đánh giá; cuối cùng là đảm bảo độc lập. Từ đó mới đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện, bổ sung các lớp phòng vệ.

Để nâng cao sự an toàn, lành mạnh trong hoạt động, đồng thời đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế thì việc tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật theo chuẩn mực quốc tế là một xu hướng và đòi hỏi tất yếu đối với các NHTM. Chính vì vậy, hiện đã có 10 NH được lựa chọn thí điểm áp dụng các tiêu chuẩn của Basell II gồm các NH lớn như Vietcombank, VietinBank, BIDV, MB, Sacombank, Techcombank, VPBank…

Song song đó, không ít các NH nhỏ cho biết họ cũng đang lên kế hoạch để thực hiện các quy định tại Basel II, dù cơ quan quản lý chưa yêu cầu. Nhưng, việc chuẩn bị cũng không thừa, nhất là khi NHNN đưa ra một lộ trình ít nhất 5 năm tới, các NHTM phải áp dụng hoàn toàn theo các quy định tại Basel II.

Các NH nhỏ cũng đang lên kế hoạch để thực hiện các quy định tại Basel II

Phát biểu tại Hội thảo “Kinh nghiệm triển khai Basel II”, vừa được tổ chức ngày 26/8 tại Hà Nội, Phó thống đốc NHNN Nguyễn Phước Thanh đánh giá cao sự thay đổi, chuyển biến nhận thức và hành động của các NHTM đối với quản trị rủi ro để đối phó với những cú sốc trong nước cũng như bên ngoài. Đồng thời thể hiện rõ sự quyết tâm thực hiện Basel II đảm bảo hệ thống NH hoạt động ngày càng lành mạnh hơn.

Song, việc thực hiện Basel II của các NHTM đang gặp những khó khăn do khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập, nguồn nhân lực TCTD còn hạn chế, bộ máy quản trị điều hành chưa thực sự hiệu quả… Nhất là công tác quản lý rủi ro cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin còn lạc hậu so với yêu cầu. Theo khảo sát mới đây của công ty KPMG, hai khó khăn chung được các ngân hàng nhắc đến nhiều nhất khi triển khai áp dụng Basel II là chi phí triển khai (chiếm 85%) và thiếu dữ liệu lịch sử (chiếm 78%).

Theo ông Craig Davis, Phó tổng giám đốc KPMG, việc thu thập dữ liệu lịch sử có vai trò rất quan trọng vì có cơ sở phân tích và nhận dạng rủi ro phát sinh, đồng thời đưa ra những kịch bản ứng phó cho các TCTD với mọi tình huống xảy ra. Nhưng thực tế, tại Việt Nam việc tính toán dữ liệu lịch sử rất khó.

Một lãnh đạo NH thừa nhận điều này vì không hẳn là số liệu các NHTM không minh bạch, nhưng do có nhiều quy định không áp dụng theo chuẩn quốc tế nên đôi khi các nhà tư vấn khó xác định tính chính xác của những con số mà họ thu thập được. Do vậy, quá trình thu thập dữ liệu lịch sử phải mất nhiều thời gian, có thể lên đến vài ba năm.

Đặc biệt, các chuyên gia của KPMG nhấn mạnh đến vai trò của Hội đồng quản trị (HĐQT) và Ban điều hành. “HĐQT là người cuối cùng chịu trách nhiệm chính, nên Hội đồng này cần phải hiểu rõ hoạt động, nắm được nhiều thông tin quan trọng để từ đó đưa ra khẩu vị rủi ro, nhận diện rủi ro. Việc kết nối chiến lược kinh doanh với khẩu vị rủi ro này là rất cần thiết và quan trọng đối với HĐQT”, ông Davis nhấn mạnh.

Để đảm bảo tính hiệu quả cho HĐQT, theo gợi ý của các chuyên gia KPMG thì hội đồng này khá đa dạng gồm có Ủy ban kiểm toán, Ủy ban rủi ro, lương thưởng, nhân sự… Hay nói cách khác phải thiết lập một cơ chế tổ chức phù hợp với các tiểu ban của HĐQT, các bộ phận chịu trách nhiệm điều hành, quản lý rủi ro và đảm bảo chất lượng. HĐQT không những xây dựng khẩu vị rủi ro cho NH mà còn phải đảm bảo truyền đạt đầy đủ và rõ ràng thông tin đối với thị trường.

Nhưng để đảm bảo tính hiệu quả cho khung quản lý rủi ro, các NH phải thực hiện đầy đủ 3 lớp phòng vệ. Đó là sở hữu rủi ro; xem xét và đánh giá; cuối cùng là đảm bảo độc lập. Từ đó mới đưa ra những khuyến nghị hoàn thiện, bổ sung các lớp phòng vệ. “Thời gian qua, nhiều NH chỉ có thói quen tiếp cận một hoặc hai lớp phòng vệ mà bỏ qua lớp phòng vệ khác. Như vậy, giảm tính hiệu quả trong quản lý rủi ro của các NH”, ông Davis nhận định.

Theo ước tính của một chuyên gia tư vấn, khi thực hiện Basel II, các ngân hàng sẽ phải tốn khoảng 5 - 10 triệu USD để xây dựng khung quản lý rủi ro và khoản chi phí mua sắm cho hệ thống công nghệ thông tin có thể lên tới 50 triệu USD. Đây là chi phí tương đối lớn đối với các TCTD Việt Nam, nhất là trong giai đoạn khó khăn này.

Tuy nhiên, các chuyên gia KPMG cho rằng, các NH Việt Nam cần nhận ra lợi ích cũng như cơ hội tiết kiệm vốn tiềm năng trong tương lai khi thực hiện Basel II. Đó là khẳng định vị thế, hệ thống xếp hạng và định giá hiệu quả hơn sẽ giúp các NH tìm kiếm đối tác thuận lợi, dễ dàng hơn và có thể được tiếp cận nguồn vốn rẻ từ các tổ chức quốc tế.

Về phía cơ quan quản lý, các chuyên gia tư vấn KPMG đưa ra đề xuất thiết lập và giám sát điểm rủi ro cho từng NH, cả tuyệt đối lẫn tương đối. Đồng thời cung cấp những dấu hiệu cảnh báo kịp thời đối với những mối quan ngại và nguy cơ rủi ro đối với tổ chức, cá nhân, thậm chí là cả hệ thống tài chính.

Song song với đó, cần tăng cường thanh tra giám sát các hoạt động của HĐQT, lãnh đạo cấp cao, bộ phận quản lý rủi ro của các NH; các yêu cầu an toàn vốn và khả năng thanh khoản; thắt chặt hơn mức độ tập trung vốn của các danh mục tín dụng cao cũng nên xem xét lại.

Có thể nói, đối với các NH việc áp dụng Basel II là một hành trình dài không thể thực hiện ngay trong ngày một ngày hai. Nhưng, cũng không thể chậm trễ để tránh tình trạng nước đến chân mới nhảy. Lúc đấy các NH khó có thể trở tay.

Hà Thành