Năm 1314, vua Trần Anh Tông nhường ngôi cho thái tử Mạnh rồi lên làm Thái thượng hoàng, về ở phủ Thiên Trường. Thái tử Mạnh lên ngôi tức là vua Trần Minh Tông (1314-1329) vốn là người nhân hậu, biết thương dân, nhưng trong một lúc thiếu sáng suốt, đã giết oan nhạc phụ là Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn, một vị lão tướng từng lập nhiều chiến công từ thời kháng Nguyên đến chinh phạt Chiêm Thành. Vì là vua nên sai lầm đó của ông không bị ảnh hưởng tới thân thế. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật của ta ngày nay, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, ai làm sai, bất kể ở vị trí nào, đều phải chịu hình phạt thích đáng nhất của pháp luật.

Trần Quốc Chẩn là thân sinh của hoàng hậu. Hoàng hậu sống với vua đã lâu mà không sinh được hoàng tử. Triều thần bấy giờ chia làm hai phe: phe của Cương Đông Văn Hiến hầu (không rõ tên) và Trần Khắc Chung muốn giảm bớt thế lực của phe Trần Quốc Chẩn nên tâu vua xin lập hoàng tử Vượng là con của bà hoàng phi Lê Thị làm thái tử. Còn phe của Huệ Võ Vương Trần Quốc Chẩn thì xin vua chờ cho hoàng hậu sinh hoàng nam rồi hãy lập thái tử. Vua Minh Tông phân vân chưa quyết. Giữa lúc hai bên còn đang giằng co thì Văn Hiến hầu cho tên Trần Phẫu là gia thần của Trần Quốc Chẩn một trăm lạng vàng và xui nó tố cáo Trần Quốc Chẩn âm mưu làm phản. Vua Minh Tông không cho tra xét thực hư, sai bắt Quốc Chẩn đem giam ở chùa Tư Phúc. Trần Khắc Chung lại tâu vua xin trừ Quốc Chẩn đi, lấy cớ rằng "bắt hổ thì dễ, thả hổ thì khó". Vua Minh Tông nghe theo, cấm không cho Quốc Chẩn ăn uống, để cho chết đói. Hoàng hậu đến thăm cha, không thể mang thức ăn vào được, chỉ lấy áo nhúng nước rồi mặc vào, đến nơi vắt nước ra cho cha uống để đỡ khát. Quốc Chẩn uống xong thì chết. Về sau, người vợ lẽ của Trần Phẫu ghen nhau với vợ cả, đi tố cáo chuyện Trần Phẫu nhận vàng và vu cáo cho Trần Quốc Chẩn nên mọi việc sáng tỏ. Bấy giờ triều đình và dân chúng mới hiểu được nỗi oan của bậc trung thần. Ngục quan Lê Duy là người trung trực, xét xử ngay ngày hôm ấy. Tên Phẫu bị kết án lăng trì (tùng xẻo). Văn Hiến hầu vì là người của hoàng tộc nên được miễn tội chết, chỉ bị giáng xuống làm dân thường, xóa tên trong sổ hoàng tộc. Vua Minh Tông rõ chuyện ấy, lấy làm ân hận lắm, nhưng việc đã lỡ rồi, không thể nào cứu vãn được, chỉ còn biết làm thơ để tự trách mình: Dạ vũ Thu khí hòa đăng thất thự minh, Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh. Tự tri tam thập niên tiền thác, Khẳng bả nhàn sầu đối vũ thanh. Dịch nghĩa: Hơi thu và ánh đèn mờ đi trước ánh ban mai, Tàu chuối xanh ngoài cửa sổ tiễn canh tàn. Tự biết sai lầm của ta ba mươi năm trước, Đành ôm sầu ngồi nghe mưa rơi. Vũ Minh Am dịch thơ: Mưa đêm Hừng sáng, đèn nhòa, nhạt khí thu, Ngoài song tàu chuối tiễn đêm mờ. Ba mươi năm trước ta lầm lỗi, Ôm nỗi hận sầu lắng tiếng mưa. Bài thơ này có lẽ được làm vào khoảng năm 1356, nhân dịp vua Minh Tông (lúc bấy giờ đã trở thành Thái thượng hoàng) về thăm đền thờ Trần Quốc Chẩn ở huyện Chí Linh. Mùa xuân năm sau ông từ trần. Trước đó khá lâu, năm 1329, vua Minh Tông đã nhường ngôi cho thái tử Vượng, con bà hoàng phi Lê Thị. Thái tử Vượng lên ngôi tức là vua Trần Hiến Tông (1329-1341). Luật nay: Kết tội phải có chứng cứ Trần Minh Tông vốn là một ông vua có lòng nhân từ nhưng chỉ vì nghe nịnh thần đã giết oan Huệ Võ vương Trần Quốc Chẩn là người có nhiều công lao với nước. Vì sao Trần Quốc Chẩn bị kết tội oan? Theo sử sách lúc bấy giờ có ghi lại là vì do sự ghen ghét giữa các phe phái trong triều đình với nhau mà chúng đã vu cáo cho ông tội làm phản -đại nghịch. Một phần đó, vua Trần Minh Tông đã không cho người đi điều tra làm rõ hành vi phản nghịch của Trần Quốc Chẩn mà đã vội vàng khép ngay tội chết cho ông. Nếu chỉ dựa vào lời tố cáo của đại thần mà kết tội một người thì quả là chuyên quyền và không công minh. Tuy rằng, sau này Trần Quốc Chẩn đã được minh oan nhưng lúc này, ông đã chết rồi. Pháp luật ngày nay rất công minh, khi phán xét một ai đó phạm tội gì cũng phải điều tra rõ hành vi cụ thể chứ không thể chỉ nghe lời tố cáo của một người nào đó. Trong vụ án trên nếu được điều tra, xét xử theo quy định của luật ngày nay thì Trần Quốc Chẩn sẽ không phải chịu bất cứ một hình phạt nào. Ngược lại, những kẻ tố giác ông sai sự thật phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trước hết, theo luật nay, không có chứng cứ để khép Trần Quốc Chẩn vào tội làm phản được. Nếu làm phản thì phải có chứng cứ nhưng đằng này, nhà vua chỉ nghe theo lời khai của quần thần mà kết tội cho ông Chẩn là vi phạm pháp luật tố tụng hình sự. Tại Điều 64 Bộ luật Tố tụng Hình sự có quy định về chứng cứ trong một vụ án như sau: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án; Chứng cứ được xác định bằng: a) Vật chứng; b) Lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo... mà vụ án trên thì không thể dựa vào lời tố cáo của một người để kết tội được. Vụ án Trần Quốc Chẩn làm phản không có vật chứng cụ thể mà chỉ dựa vào lời tố cáo của Văn Hiến hầu và tên Phẫu. Do vậy, việc buộc tội Trần Quốc Chẩn là khiên cưỡng và thiếu khách quan. Ngược lại người có hành vi xúi giục người khác như là Văn Hiến hầu hay là tên Phẫu có hành vi tố cáo sai sự thật phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với Văn Hiến hầu có hành vi xúi giục người khác tố cáo sai sự thật thì nhẹ sẽ bị xử lý về hành chính còn nặng sẽ bị truy cứu tới trách nhiệm hình sự. Đối với tên Phẫu đã nhận tiền vàng để tố cáo sai sự thật sẽ phải chịu hình phạt theo quy định tại khoản 2 Điều 122 về hành vi Vu khống người khác phạm tội của mình. Trong vụ án trên, để nhận được 100 lạng vàng hắn đã tố cáo láo với vua rằng Trần Quốc Chẩn có âm mưu làm phản khiến ông phải chịu tội chết. Nếu xử theo luật nay, trong vụ án này, Phẫu sẽ phải chịu hình phạt cao nhất là 7 năm tù giam. Tường Linh