Để phòng chống bệnh liên cầu lợn, Cục Y tế Dự phòng cho biết, người dân cần tránh xa các món như: tiết canh, nem chua, nem chạo, nội tạng lợn chần...

An nem chua, nem chao de mac lien cau lon - Anh 1

* Ăn nem chua, nem chạo dễ mắc liên cầu lợn?

Để phòng chống bệnh liên cầu lợn, Cục Y tế Dự phòng cho biết, người dân cần tránh xa các món như: tiết canh, nem chua, nem chạo, nội tạng lợn chần...

Bệnh liên cầu lợn ở người là bệnh nhiễm khuẩn cấp tính lây truyền từ động vật sang người, chủ yếu là từ lợn. Biểu hiện lâm sàng của bệnh đa dạng nhưng hay gặp nhất là viêm màng não mủ và sốc nhiễm khuẩn, bệnh nặng có thể dẫn đến tử vong. Hiện nay chưa có vắc xin phòng bệnh.

Thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, sử dụng găng tay và các dụng cụ bảo hộ cần thiết khác khi tiếp xúc với lợn, chế biến thịt lợn, thường xuyên rửa tay với xà phòng. Không mua bán, vận chuyển, giết mổ lợn bệnh, lợn chết. Tiêu hủy lợn bệnh, lợn chết theo đúng quy định.

Người khi có các biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh như sốt cao đột ngột và có tiền sử chăn nuôi, giết mổ lợn ốm, chết hoặc sản phẩm từ lợn không đảm bảo vệ sinh cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.

* Ưu điểm vượt trội dây thìa canh mang lại cho bệnh tiểu đường?

Ở Ấn độ, Dây thìa canh có tên Gurmar, có nghĩa là kẻ hủy diệt đường. Tên gọi này có từ 2000 năm trước. Khoa học ngày nay đã tìm ra hoạt chất chính trong dây thìa canh là gymnemic acid, ức chế hấp thu glucose ở ruột, làm tăng hoạt tính của men hấp thu và sử dụng đường, giảm cholesterol và lipid máu.

Tác dụng hạ đường huyết của dây thìa canh sinh trưởng ở Việt Nam (đề tài được công bố trên tạp chí Dược học - Bộ y tế số 391 tháng 11/2008) có tác dụng hạ đường huyết duy trì tưd 2 đến 4 giờ. Ngoài ra trên một số nghiên cứu khác cho thấy tác dụng giảm cholesterol máu giảm béo phì cũng rất hiệu quả.

Như vậy dây thìa canh có thể ứng dụng điều trị cho cả bênh nhân tiểu đường tuýp 1 hoặc tuýp 2 phối hợp với các thuốc điều trị khác để kiểm soát và làm giảm đường huyết, ổn định kéo dài hàm lượng đường huyết, phòng ngừa biến chứng, giảm cholesterol và lipid trong máu, nâng cao đời sống tình dục của bệnh nhân tiểu đường nam giới. Hiệu quả sẽ rất khả quan đạt được sau đợt dùng 4 tháng, kết hợp với chế độ ăn uống và tập thể dục đều đặn.

* Ăn bắp , nên giữ râu bắp làm thuốc uống?

Thế giới đang chú ý nhiều đến các loại trà thảo mộc và một trong các loại giúp giải độc tốt là trà râu bắp. Đây cũng là thức uống có trong danh mục các loại thuốc allopathic mà phương Tây áp dụng điều trị cho các rối loạn tuyến tiền liệt, chứng đái dầm, béo phì và nhiễm trùng tiết niệu.

Theo y học cổ truyền, râu bắp có vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, thông mật, lợi mật, thanh nhiệt. Trên dược lý thực nghiệm và lâm sàng chứng minh nước sắc râu bắp giúp làm dịu các cơn đau nhức của viêm bàng quang, làm tan các viên sỏi nhỏ dạng oxalate, urat, phosphat và carbonat trong bàng quang và đường niệu.

Nước râu bắp có tác dụng làm tăng bài tiết mật, giảm độ nhớt của mật, tạo điều kiện dẫn mật vào ruột được dễ dàng, làm hạ đường huyết, tăng bài tiết nước tiểu giảm phù, cầm máu trong trường hợp xuất huyết tử cung. Sử dụng râu bắp còn giúp ngăn chặn các lần đi tiểu lắt nhắt của các bệnh nhân bị viêm hay phì đại tuyến tiền liệt. Nhờ tác dụng lợi tiểu nó có thể làm hạ huyết áp ở người huyết áp cao. Người dân địa phương một vài vùng ở Hoa Kỳ còn sử dụng nó để điều trị vô sinh và đau bụng kinh.

Râu bắp có tác động gián tiếp trên gan nhờ làm tăng dòng chảy của mật và được dùng trong điều trị sỏi túi mật. Râu bắp có chứa vitamin A, vitamin K, vitamin B1, B2, B6 (pyridoxin), vitamin H (biotin), vitamin C, vitamin PP, các flavonoid, acid pantothenic, isotol, các saponin, các steroid như sytosterol và sigmasterol, các chất đắng, dầu béo, vết tinh dầu và nhiều chất vi lượng khác.

Các chuyên gia cũng khuyên khi dùng râu bắp để trị bệnh chỉ nên dùng trong 10 ngày, sau đó ngưng 5 ngày rồi dùng lại, để tránh trường hợp gây rối loạn điện giải.Trong trường hợp đang dùng một loại thuốc khác để trị bệnh thì không nên dùng chung với trà râu bắp. Phụ nữ có thai tuyệt đối không dùng.Người già, trẻ em, người đang bị cảm lạnh, cúm cũng không nên dùng.