Trong trường hợp người thuê trọ bị mất xe máy thì người cho thuê có trách nhiệm phải bồi thường tài sản hay không?

Ai chiu trach nhiem neu mat xe may tai nha tro? - Anh 1

Hình minh họa.

Tôi cho thuê phòng trọ và thu tiền để xe 100 nghìn/tháng. Mới đây, một khách thuê trọ đã bị trộm đột nhập lấy mất chiếc xe trị giá 22 triệu đồng. Lúc tôi ký hợp đồng cho thuê phòng, trong hợp đồng có đề "Bên B có trách nhiệm tự giữ và bảo quản đồ đạc, tư trang cá nhân cũng như phương tiện đi lại (ô tô, mô tô, xe gắn máy, xe đạp...) của mình. Nếu mất mát xảy ra, bên A không chịu trách nhiệm".

Vậy trong trường hợp này tôi có trách nhiệm phải bồi thường cho người thuê trọ không? Nếu có thì bồi thường bao nhiêu phần trăm cho khách hàng, theo điều nào khoản nào của luật?

Luật sư Huỳnh Mỹ Long - Đoàn luật sư TP Hà Nội trả lời: Việc bạn thu tiền để xe của người thuê phòng trọ với số tiền 100 nghìn/tháng có thể hiểu là 1 trong 2 giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể. Đây là dạng hợp đồng không thể hiện bằng văn bản.

Hợp đồng thuê sân, kho, bãi làm nơi để xe máy: Chủ xe máy không giao chiếc xe cho bạn khi về nhà trọ, không nhận chiếc xe khi cần sử dụng xe để đi đâu đó. Người có xe máy đã biết và được thỏa thuận là hoàn toàn chịu trách nhiệm tự trông coi bảo vệ giữ gìn tài sản của mình.Hợp đồng gửi giữ tài sản (chiếc xe máy): Chiếc xe được thường xuyên cất vào nhà riêng của bạn hoặc trong kho (nhà để xe) có khóa cửa mà bạn là người giữ chìa khóa kho và bị mất xe khi đang được cất giữ.

Về thỏa thuận "Bên B có trách nhiệm tự giữ và bảo quản đồ đạc, tư trang cá nhân cũng như phương tiện đi lại (ô tô, mô tô, xe gắn máy, xe đạp...) của mình. Nếu mất mát xảy ra bên A không chịu trách nhiệm" ghi trong hợp đồng thuê nhà là thỏa thuận trong giao dich cho thuê nhà ở. Thỏa thuận này độc lập với 2 trường hợp nêu trên và chỉ đúng khi chiếc xe máy bị mất khi đang để trong phòng trọ và đương nhiên bạn không phải chịu trách nhiệm.

Như vậy, nếu bạn và người thuê trọ bị mất xe máy không có thỏa thuận rõ ràng đối với 1 trong 2 trường hợp giao dịch nêu trên thì theo quy định pháp luật trong Bộ luật dân sự:

Điều 131. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn Khi một bên có lỗi vô ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch dân sự mà xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu bên kia thay đổi nội dung của giao dịch đó, nếu bên kia không chấp nhận thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu.

Trong trường hợp một bên do lỗi cố ý làm cho bên kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch thì được giải quyết theo quy định tại Điều 132 của Bộ luật này.

Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Nếu 2 bên không thỏa thuận được thì bên bị thiệt hại (mất xe máy) có quyền khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền. Để xem xét về bản chất hợp đồng giao dịch nào thì tòa án sẽ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ, lời khai của các bên, người làm chứng… làm căn cứ giải quyết vụ án.

Nguyễn Xinh