Nguyên Trưởng ban An ninh T4 Nguyễn Tài (thứ hai từ phải qua) trong buổi lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng
Quê ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, thiếu tướng Nguyễn Tài sinh năm 1926 trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Phụ thân của ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan, một nhà văn lớn của Việt Nam. Ông bắt đầu gắn bó cuộc đời mình với Cách mạng từ năm 1944 khi quyết định gia nhập Đoàn thanh niên cứu quốc ở Hà Nội và đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương từ tháng 3-1945, được lên chiến khu Tân Trào học Trường Quân chính khóa I.
Trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ông lần lượt trải qua các cương vị: cán bộ Sở Công an Bắc bộ, Trưởng văn phòng Công an khu XI, Trưởng ty Công an Hà Nội, quyền Giám đốc Công an Đặc khu Hà Nội. Kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông được giao nhiệm vụ Phó văn phòng rồi Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị Bộ Công an, góp phần làm chuyển biến tốt công tác tình báo, phản gián và tham gia chỉ đạo thực hiện thành công nhiều chuyên án, trong đó có những vụ án gián điệp lực lượng an ninh đã sử dụng chính người của địch để đánh địch, bắt sống và tiêu diệt nhiều tên gián điệp, biệt kích của địch tung ra miền Bắc, thu nhiều điện đài, vũ khí...
Tháng 3-1964, trước yêu cầu của chiến trường, ông được cử vào Nam chiến đấu. Từ năm 1966, là Ủy viên Ban An ninh Trung ương cục miền Nam, Trưởng ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định (An ninh T4), ông đã trực tiếp biên soạn bài giảng, mở nhiều lớp bồi dưỡng công tác điệp báo và an ninh đô thị, đồng thời chỉ đạo lực lượng an ninh hoạt động có hiệu quả, lập được nhiều chiến công vang dội. Điển hình là vụ tiêu diệt Nguyễn Xuân Chữ, bộ trưởng chiến tranh tâm lý; vụ diệt Trần Văn Văn, cựu chủ tịch Hội đồng quân nhân, chủ tịch Ban soạn thảo hiến pháp của ngụy quyền Sài Gòn; góp phần đánh thắng cuộc hành quân Cedar Falls của quân Mỹ vào khu tam giác sắt (Bến Cát - Trảng Bàng - Củ Chi)...
Sau chiến dịch Mậu Thân 1968 của ta, địch tăng cường bình định, kiểm soát gắt gao nhưng lực lượng an ninh do ông phụ trách đã có rất nhiều cố gắng, vừa tổ chức lại lực lượng, gầy dựng cơ sở vừa chuyển vũ khí vào nội thành, đánh nhiều vụ gây tiếng vang lớn, làm cho địch hoang mang, lo sợ. Đặc biệt là vụ tiêu diệt thiếu tướng Nguyễn Văn Kiểm - tham mưu trưởng Biệt bộ phủ tổng thống ngụy quyền Sài Gòn - ngay giữa đường phố; vụ tiêu diệt (không thành do mìn bị trục trặc) thủ tướng ngụy Trần Văn Hương; vụ đánh mìn tại bãi xe Tổng nha Cảnh sát vào giờ tan tầm gây nhiều thương vong cho địch; chặn đứng cuộc càn của địch vào căn cứ của Thành ủy...
Ngày 23-12-1970, trên đường đi công tác (sử dụng giấy tờ giả đi bằng đường công khai), ông bị địch bắt trong một cuộc vây ráp bất ngờ trên sông ở Bến Tre. Hơn bốn năm trong nhà tù, mặc dù bị địch dùng mọi thủ đoạn điều tra, bị tra tấn dã man, nếm trải đủ thứ cực hình, ông vẫn trung thành tuyệt đối với Đảng, kiên cường giữ vững khí tiết của người chiến sĩ Cách mạng, không khai báo bất cứ điều gì có hại cho Cách mạng, bảo vệ được cơ sở và những bí mật của Đảng, của ngành.
Sau Hiệp định Pari, địch không trao trả ông và gần đến ngày Sài Gòn giải phóng, trước khi tháo chạy, CIA và Nguyễn Khắc Bình (tướng tình báo ngụy) đã ra lệnh bí mật thủ tiêu ông nhưng bọn thuộc hạ không dám thi hành vì sợ gây thêm tội với Cách mạng. Do quân ta tiến nhanh, ông đã thoát chết, được giải thoát ngày 30-4-1975 khi bộ đội đánh chiếm trung ương tình báo ngụy ở đường Bạch Đằng. Sau ngày giải phóng, ông được phân công giữ chức vụ cũ là Ủy viên thường vụ, Trưởng ban An ninh TP. Sài Gòn. Năm 1976, ông được giao chức vụ Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Frank Snepp - chuyên gia phân tích chiến lược của CIA, trực tiếp hỏi cung Nguyễn Tài - đã viết trong hồi ký của mình như sau: “Một xà lim đặc biệt được xây riêng cho ông ta (Nguyễn Tài - PV) để theo dõi mọi cử chỉ, lúc thức cũng như ngủ. Chỗ ở của ông ta được lắp máy lạnh có công suất cao chạy tối đa vì biết ông ta không chịu được lạnh. Sài Gòn đã hỏi cung ông ta tám tháng nhưng họ đã thất bại, một chuyên gia Mỹ cho đối chất ông ta với những người bị bắt, chiêu hồi nhưng chỉ làm cho ông ta biết họ đã nắm được gì, cần nhận đến mức nào, cái gì có thể che giấu... Tài hoàn toàn tin tưởng vào lý tưởng chính trị của mình”.
Từ cuối năm 1981 ông được phân công làm Phó chủ nhiệm Ủy ban Thanh tra Nhà nước rồi Tổng cục trưởng đầu tiên của Tổng cục Hải quan, đại biểu Quốc hội, Phó chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội khóa VIII cho đến khi về hưu vào năm 1992. Trên cương vị nào, ông cũng cố gắng làm hết sức mình và có những đóng góp đáng kể. Với thành tích đặc biệt xuất sắc trong quá trình hoạt động cách mạng, đồng chí Nguyễn Tài đã được tặng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương độc lập, Huân chương quân công, Huân chương Kháng chiến hạng nhất, hạng nhì... Và, vào tháng 6-2002, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Buổi lễ trao danh hiệu Anh hùng cho ông được tổ chức long trọng tại TPHCM, nơi ông từng gắn bó hàng chục năm trời khi lãnh đạo lực lượng An ninh T4.
Đồng chí Võ Văn Kiệt, cố Thủ tướng Chính phủ, đã nhận xét: “... Quá trình hoạt động cũng như quá trình đấu tranh kiên trung, mưu trí khi bị địch bắt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của đồng chí Tài cho thấy đồng chí thực sự xứng đáng là một Anh hùng. Sau giải phóng, đồng chí Tài đã kiên trì, thẳng thắn đấu tranh có nguyên tắc để bảo vệ mình trước những nghi vấn về thời gian bị địch bắt giam cầm và đã được các cơ quan chức năng của Đảng kết luận. Việc đó càng làm sáng tỏ hơn phẩm chất Anh hùng của đồng chí”.