
Nếu đứng ở vai trò doanh nghiệp (DN), tôi cũng chưa biết phải làm gì khi đọc qua chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa của TP.HCM thời kỳ 2011-2020 vừa được phê duyệt ngày 28/12/2011. Điều này là hoàn toàn thực tế!
Lâu nay chúng ta nói tăng xuất khẩu, nhưng xuất khẩu càng tăng thì nhập siêu càng lớn. Đơn giản vì chúng ta chưa làm rõ cũng như chưa xác định được quan điểm.
Vấn đề ở đây không phải xuất khẩu mọi thứ, mà chỉ xuất khẩu những gì mang lại hiệu quả cho nền kinh tế, trong đó có đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế.
Thử đơn cử, một DN hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao, một năm xuất khẩu 1 tỷ USD, nhưng nhập khẩu cũng lên đến 900 triệu USD. Đấy cũng là một vấn đề, song trong chiến lược của Chính phủ vấn đề này cũng không được nêu ra.
Nhìn lại cách tính trong cơ cấu xuất khẩu giai đoạn 2006 - 2009, tại TP.HCM, trừ dầu thô, những sản phẩm công nghiệp khác thuộc TP.HCM hay ở đâu thì không ai biết.
Trong chuỗi giá trị hàng hóa có 3 giai đoạn: (1) Thiết kế mẫu, sản xuất linh kiện; (2) Lắp ráp sản phẩm; (3) Tổ chức, phân phối, bán hàng. Theo đó, hai giai đoạn (1) và (3) cho giá trị rất cao.
Thế nhưng, Việt Nam chỉ chú trọng giai đoạn (2), giai đoạn cho giá trị thấp nhất. Như vậy, trong chiến lược xuất khẩu của Việt Nam cũng như tại TP.HCM, vấn đề chọn chuỗi giá trị nào, loại gì, ở đâu vẫn chưa được rõ. Từ đó đã dẫn đến nhiều nút thắt trong việc hình thành các trung tâm thương mại, cửa hàng trưng bày, mua bán...
Còn nhớ cách đây 5 năm, Tổng công ty Dệt May Việt Nam có xin Thành phố triển khai khu đất có diện tích rộng 5ha để phát triển ngành phụ trợ ngành may. Đến nay cũng chưa biết kế hoạch này đã triển khai đến đâu.
Tuy nhiên, thực tế, trên thế giới, không một quốc gia nào làm công nghiệp phụ trợ cho từng sản phẩm như gỗ, may... Bởi vì, nền công nghiệp phụ trợ sẽ bao gồm bốn nhóm ngành công nghiệp chính như: cơ khí, cao su, điện tử - viễn thông và các loại hóa chất. Theo đó, bốn nhóm công nghiệp phụ trợ này sẽ là đòn bẩy nâng sự phát triển của toàn nền kinh tế đi lên.
Vì thế, nếu công nghiệp phụ trợ không phát triển thì đừng bàn đến việc nâng cao giá trị gia tăng trong cơ cấu sản phẩm hàng xuất khẩu hay nội địa hóa.
Nói điều này để thấy, tuy thành phố có nhiều ý tưởng trong chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hay ổn định cơ cấu kinh tế, gắn liền với chương trình xuất khẩu của ngành trong nhiều năm qua, nhưng chúng ta vẫn chưa làm được do đang vướng.
Chính vì vậy, để xây dựng được một chương trình định hướng cho giai đoạn sắp tới, cần tập trung vào một số vấn đề.
Thứ nhất, nên làm rõ quan điểm, về chiến lược xuất khẩu hàng hóa trong định hướng của Chính phủ tại TP.HCM. Thứ hai, không nên đặt TP.HCM trong chiến lược riêng, mà nên đặt trong tổng thể vùng kinh tế trọng điểm để xây dựng một chiến lược xuất khẩu, nhằm giúp Thành phố làm đúng vai trò của mình.
Tức là chỉ cần DN hoạt động giao dịch ở TP.HCM, không quan trọng sản phẩm hàng hóa sản xuất ở tỉnh nào của vùng. Có như vậy mới có thể nâng tầm cũng như vị thế của các ngành có thế mạnh xuất khẩu.
Thứ ba, nên thay đổi quan điểm về vai trò của Nhà nước trong hỗ trợ DN lẫn hỗ trợ thị trường. Bởi vì, đứng ở phương diện DN, họ không quan tâm nhiều đến công nghệ thấp hay cao. Song, công nghệ nào đem đến lợi nhuận tốt nhất thì họ sẽ chọn.
Như vậy, đối với trường hợp này, Nhà nước muốn gì buộc phải có chính sách tác động rõ đến thị trường, qua đó lấy thị trường tác động lên DN. Từ những chính sách đó, nếu DN thấy có lợi, tốt đương nhiên họ sẽ làm theo. Do đó, vấn đề vẫn là ở chính sách.
Điều quan trọng là chúng ta cần xây dựng một định chế để hỗ trợ DN nhỏ và vừa Việt Nam một cách đúng nghĩa. Hiện có cả trăm cơ quan hỗ trợ DN, nhưng thực tế vẫn chưa hỗ trợ được DN nào.
Nhìn lại Đài Loan, họ chỉ có một trung tâm kinh tế lớn thực hiện theo mô hình OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product, có nghĩa, mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm), nhưng họ thực sự hỗ trợ được cho DN rất nhiều.
Và nếu DN không đến với họ thì không thể tồn tại cũng như không thể phát triển được. Tuy nhiên, DN không hề tốn bất kỳ khoản kinh phí nào. Đấy cũng là vấn đề trong chiến lược Thành phố nên đề cập và xây dựng.
Thực tế mô hình OTOP không mới, nó tạo ra một thế mạnh về sản phẩm mỗi vùng miền. Ở Thái Lan, Đài Loan, mô hình này đang phát triển khá mạnh, song mô hình này ở Việt Nam vẫn còn trong giai đoạn manh nha.
Vì thế, trong chiến lược phát triển cũng cần phải nghiên cứu cả OTOP. Do đó, cũng nên thoát khỏi tư duy ngồi cộng từng sản phẩm, trong đó, dầu thô luôn được đóng vai trò chủ yếu.