Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng, Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật vừa phối hợp tổ chức thành công Hội thảo khoa học “Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa dưới ánh sáng Đại hội lần thứ XI của Đảng”. Hơn 70 tham luận tại Hội thảo đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, quan điểm cũng như các chủ trương, giải pháp chiến lược về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc được nêu trong Văn kiện của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI. Qua đó, góp phần củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, đề cao ý thức trách nhiệm và quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI vào cuộc sống.

Trong phát biểu đề dẫn tại Hội thảo, Trung tướng, PGS.TS Nguyễn Tiến Quốc - Giám đốc Học viện Chính trị Bộ Quốc phòng nêu rõ: Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua nhiều văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của đất nước: Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội Đảng lần thứ XI và Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi). Các văn kiện được thông qua tại Đại hội đã thể hiện sự tổng kết sâu sắc lý luận và thực tiễn, là sự kết tinh trí tuệ, ý chí, nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta; Tiếp tục khẳng định, hoàn thiện và phát triển quan điểm và đường lối đổi mới của Đảng theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội đã xác định mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân tộc ta trong giai đoạn phát triển mới là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. PGS.TS Vũ Văn Phúc, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản trong tham luận “Tính đặc thù theo định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta” đã phân tích sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Tham luận khẳng định: “Phát triển kinh tế thị trường được coi là chiếc đòn xeo để xây dựng chủ nghĩa xã hội, là phương tiện khách quan để xã hội hóa xã hội chủ nghĩa nền sản xuất. Không thể có nền kinh tế thị trường ở nước này lại là bản sao của kinh tế thị trường ở nước khác. Trong các tiêu thức để phân biệt nền kinh tế thị trường này với nền kinh tế thị trường khác, phải kể đến định hướng chính trị, kinh tế, xã hội chi phối sự vận động phát triển của nền kinh tế. Ở nước ta những định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế là: , phát triển nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, với sự đa dạng các hình thức sở hữu và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. , phát triển nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đảm bảo thống nhất giữa sự phát triển, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội. , xây dựng một nền kinh tế thị trường hòa nhập vào nền kinh tế thị trường khu vực và thế giới với nhiều hình thức quan hệ và liên kết phong phú đa phương, đa dạng. Với định hướng trên, mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là: tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh tế. Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực hiện có, tăng thêm các nguồn lực mới bằng cách nâng cao tỷ lệ tiết kiệm, tăng tích lũy và đầu tư hiện đại hóa, đổi mới cơ cấu kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao... để đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và kém phát triển... Ở nước ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm các yêu cầu sau: tăng trưởng kinh tế phải gắn chặt với những tiến bộ về công bằng xã hội, thực hiện mục tiêu "mọi lợi ích đều vì dân", giải phóng con người, con người phát triển toàn diện. Phát triển kinh tế cao dựa trên cơ sở lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Thành phần kinh tế nhà nước là chủ đạo, cùng kinh tế hợp tác là nền tảng của kinh tế quốc dân. Các thành phần kinh tế khác phát triển theo sự quản lý của Nhà nước. Tính năng động của cơ chế thị trường phải gắn với sự quản lý của Nhà nước. Đa dạng các hình thức phân phối, phân phối theo lao động ngày càng chi phối. Không ngừng đổi mới và hoàn thiện quan hệ giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng của đất nước, nhằm phát huy sức mạnh tổng thể quốc gia. Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế theo nguyên tắc ngày càng tăng nhanh sức sống nội sinh của dân tộc, biến yếu tố ngoại sinh thành yếu tố nội sinh.” Để phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, theo PGS.TS Vũ Văn Phúc những giải pháp sau: “, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần. , mở rộng phân công lao động, phân bố lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, từng vùng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. , tạo lập và phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường. , đẩy mạnh cách mạng khoa học - công nghệ, nhằm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. , giữ vững ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả. , đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và các nhà kinh doanh giỏi, phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. , mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại để phát triển kinh tế thị trường.” GS.TS Đỗ Thế Tùng trong tham luận “Vấn đề phát triển bền vững trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam”, đã tóm lược những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (2001 - 2010), đã đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển. Tuy nhiên, GS.TS Đỗ Thế Tùng cũng đưa ra nhận định: Sự phát triển về mọi mặt của nước ta chưa bền vững, cả về kinh tế, văn hóa - xã hội và bảo vệ môi trường. Kinh tế tăng tưởng chủ yếu theo chiều rộng, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và năng suất lao động thấp. Quản lý còn yếu kém, gây lãng phí, thất thoát lớn. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao. Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khoa học, công nghệ chưa thật sự trở thành động lực thúc đẩy, chưa gắn kết chặt chẽ với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Tình trạng thiếu việc làm ở thành thị và nông thôn còn cao. Tiền lương không động viên được cán bộ, công chức, người lao động gắn bó, tận tâm với công việc. Đời sống của một bộ phân dân cư, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe còn thấp. Tệ nạn tham nhũng, quan liêu, các tệ nạn xã hội vẫn rất đáng lo ngại.”. Để khắc phục những mặt hạn chế trên, GS.TS Đỗ Thế Tùng chủ trương: “Trên cơ sở tiếp tục đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô và an ninh, quốc phòng, phát triển nhanh và bền vững được coi là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020”. GS.TS Đỗ Thế Tùng đã đề ra những giải pháp như: Để phát triển kinh tế, “phải đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Về văn hóa, xã hội: “Để phát triển bền vững phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Đầu tư hợp lý, có hiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế”. Về bảo vệ môi trường, cần “Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội, trước hết là của cán bộ lãnh đạo các cấp về bảo vệ môi trường. Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường, xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Ngăn chặn có hiệu quả nạn phá rừng, cháy rừng và tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi; xử lý nghiêm các cơ sở gây ô nhiễm, khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường”. Trong tham luận “Quan điểm của Đại hội Đảng XI về phát huy dân chủ, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, Thiếu tướng, GS. TS Nguyễn Văn Tài nêu rõ: “Các quan điểm của Đảng về phát huy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là của Đảng. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện để đưa sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước đến thắng lợi”. Theo Thiếu tướng, GS. TS Nguyễn Văn Tài, vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ được Đảng ta nhận thức và thực hiện ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn. Qua 25 năm đổi mới, Đảng ta đã có. . Nội dung cơ bản của dân chủ xã hội chủ nghĩa là "Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân". Đảng ta đã quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa: Dân chủ gắn liền với quyền làm chủ của nhân dân; dân là gốc, dân là chủ và dân làm chủ. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một mục tiêu lớn, một nội dung quan trọng của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cũng theo Thiếu tướng, GS. TS Nguyễn Văn Tài: Tthực chất của phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là phát huy vai trò chủ thể của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức xã hội và nhân dân, nhằm huy động mọi nguồn lực để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là phát huy vai trò tích cực, tự giác, sáng tạo của con người. Mục tiêu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là củng cố và tăng cường sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa vững mạnh; giữ ổn định chính trị, tạo tiền đề đẩy mạnh sự phát triển toàn diện đất nước; tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ mới. Nội dung cơ bản phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng thông qua Nhà nước lãnh đạo toàn xã hội phát triển theo đúng con đường xã hội chủ nghĩa; nhà nước là tổ chức quyền lực của nhân dân, thể chế hóa quan điểm đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý điều hành xã hội để thực hiện đường lối của Đảng và lợi ích của nhân dân; các tổ chức chính trị và tổ chức xã hội hoạt động đúng đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước nhằm thể hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ có tổ chức của các tầng lớp nhân dân; tăng cường mở rộng hơn nữa dân chủ trực tiếp. Nhân dân có quyền và trách nhiệm trực tiếp xây dựng, hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều phải trực tiếp phản ánh lợi ích của đa số nhân dân.” Tham luận “Phát huy vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới” của PGS. TS Trần Văn Phòng đã khẳng định vấn đề xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới là sự nghiệp của toàn dân, chỉ có phát huy vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mới có thể làm tốt sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới hiện nay. PGS.TS Trần Văn Phòng nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là một giá trị tinh thần to lớn, một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Truyền thống ấy đã được hun đúc, bồi đắp qua hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nó trở thành giá trị vững bền, là “chất keo” kết dính tự nhiên, là mạch nguồn, là nhân tố quyết định sự tồn vong của dân tộc ta qua suốt chiều dài lịch sử. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới có thành công hay không phụ thuộc vào nhiều nhân tố nhưng trước hết là phụ thuộc vào việc phát huy được hay không vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc… Nhận thức rõ ý nghĩa đó, Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”. Trên tinh thần ấy, tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội XI tiếp tục nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Để tăng cường, củng cố và phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ mới, PGS. TS. Trần Văn Phòng chủ trương tập trung vào những vấn đề cơ bản sau: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với việc xây dựng, phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. cần đặt con người vào trung tâm của sự phát triển, mọi chính sách phát triển phải lấy con người là mục tiêu, tạo mọi điều kiện để con người phát huy tốt nhất những năng lực bản chất của mình. phải coi trọng việc tăng cường, củng cố khối liên minh công - nông - trí trong điều kiện hiện nay. PGS. TS. Trần Văn Phòng nhấn mạnh: “Lịch sử của dân tộc ta đã chứng tỏ khi nào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được phát huy thì đất nước ta được phát triển, biên cương của Tổ quốc được bảo vệ vững chắc, lòng dân an bình, xã hội phát triển về mọi mặt. Do vậy, sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới đòi hỏi phải đặc biệt quan tâm vấn đề xây dựng, phát huy vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Có như vậy, sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc mới vững chắc.” Trong tham luận “Quá trình nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp”, PGS. TSKH Nguyễn Văn Đặng đã khái quát: “Trong suốt quá trình đổi mới 25 năm qua, Đảng ta không ngừng tìm tòi, phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trên tổng thể và đối với từng yếu tố cấu thành của quan hệ sản xuất. Đó là một quá trình vận động, phát triển liên tục về nhận thức thông qua lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, đã đem lại những thành tựu to lớn trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại hội XI của Đảng đã kế thừa và phát triển những thành tựu của đổi mới, đề ra quyết sách quan trọng cho những năm sắp tới”. Sau khi điểm lại quá trình phát triển nhận thức về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất, từ Đại hội lần thứ III của Đảng chủ trương phải lấy cải tạo xã hội chủ nghĩa làm trọng tâm, nhằm cải tạo những quan hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, cho đến Đại hội XI của Đảng, kế thừa và phát triển những thành tựu của quá trình đổi mới, đã xác định: "Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội, điều kiện phát triển. Phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội". Tác giả khẳng định: “Nhìn chung, tư duy và đường lối đổi mới của Đảng qua các nhiệm kỳ đại hội về mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp đã được thể chế hóa, được các ngành, các cấp tích cực chỉ đạo thực hiện, được nhân dân đồng tình, hưởng ứng, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường đồng thuận xã hội”. Theo PGS. TSKH Nguyễn Văn Đặng, đạt được những thành tựu quan trọng như trên, nguyên nhân là do những chính sách đổi mới về quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ và yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất đã tác động khơi dậy, phát huy các nguồn lực để phát triển; Nhà nước đã kịp thời cụ thể hóa, thể chế hóa các chủ trương của Đảng; các chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp quy luật khách quan, phù hợp thực tiễn của đất nước, phù hợp lòng người, được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Tuy nhiên, theo tác giả, trong xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất, còn những hạn chế, dẫn đến cản trở sự phát triển lực lượng sản xuất. Trong đó, như Đại hội XI của Đảng nhận định, "trực tiếp và quyết định nhất vẫn là ". Đại hội XI đã chỉ rõ một trong những nguyên nhân chủ quan của những hạn chế, yếu kém là: "Tư duy phát triển kinh tế - xã hội và phương thức lãnh đạo của Đảng chậm đổi mới, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển đất nước"; "Nhận thức trên nhiều vấn đề cụ thể của công cuộc đổi mới còn hạn chế, thiếu thống nhất"; "Tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu". Trong thực tế vẫn còn tồn tại sự e ngại chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, phát triển mạnh kinh tế tư nhân, chưa có thái độ dứt khoát đối với những hợp tác xã tồn tại chỉ mang tính hình thức... Vì vậy, cần từ thực tiễn, tiếp tục nghiên cứu, tìm tòi, đổi mới về cả nhận thức và chỉ đạo thực hiện để giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp trong những năm sắp tới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. Trong tham luận với nhan đề “Nhận thức về xu thế phát triển của lịch sử và tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, PGS.TS Lê Văn Yên đã phân tích sâu sắc về xu thế phát triển của các nước và khu vực trên thế giới hiện nay, như: Xu thế toàn cầu hóa. Xu thế tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định và những vấn đề toàn cầu cấp bách. Xu thế phục hồi và tăng cường ảnh hưởng của các Đảng Cộng sản. Xu thế độc lập tự chủ, chống sự can thiệp, áp đặt. Xu thế vận động của chủ nghĩa tư bản”. Tham luận nhấn mạnh: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội PGS.TS Lê Văn Yên cũng khẳng định: “Tình hình thế giới và trong nước đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều nội dung liên quan được Đảng ta nhận thức sâu sắc và giải quyết có hiệu quả, trong đó có nhận thức về xu thế phát triển của lịch sử và tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam… Một lần nữa chúng ta khẳng định: Cương lĩnh là tuyên ngôn chính trị của Đảng, mang tầm định hướng chiến lược về con đường phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; là ngọn cờ chiến đấu của Đảng và dân tộc ta vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; là nền tảng lý luận, tư tưởng, chính trị, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và nhân dân ta hiện nay cũng như trong những thập kỷ tới. Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước ta nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc. Chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam vững bước đi tới tương lai.”. Một số tham luận khác đọc tại Hội thảo như: “Quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển” của Đại tá, PGS. TS Phạm Xuân Hảo, “Một số vấn đề về bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa”của PGS. TS Nguyễn Hoàng Giáp“Công tác lý luận với nhiệm vụ tăng cường xây dựng Đảng về chính trị theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI” của Đại tá, PGS. TS Nguyễn Văn Thắng, “Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI với vấn đề mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc” của Thiếu tướng, PGS. TS Trương Thành Trung… đã đặt ra những vấn đề rất đáng quan tâm, thu hút được sự chú ý của đông đảo đại biểu tham dự hội thảo. Trong phần kết luận hội thảo, PGS. TS Nguyễn Viết Thảo, Tổng Biên tập Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh: Với trên 70 bài tham luận của các nhà khoa học gửi tới Hội thảo, với nhiều cách tiếp cận, nghiên cứu, quán triệt, luận giải làm sâu sắc nhiều vấn đề khác nhau, song các bài viết dù được trình bày và