Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh

Nhân dân - 

ND- Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay.

Nền quốc phòng nước ta là nền quốc phòng toàn dân, toàn diện, độc lập tự chủ, tự lực tự cường và ngày càng hiện đại, là nền quốc phòng của dân, do dân và vì dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là nội dung cơ bản của chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Ngày nay, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa kinh tế; những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới; sự xuất hiện loại hình chiến tranh mới, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao; sự chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch bằng chiến lược "diễn biến hòa bình" kết hợp với bạo loạn lật đổ đã và đang đặt ra nhiều vấn đề mới đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta. Trong điều kiện đó, "tính linh hoạt" của nền quốc phòng toàn dân trở nên rất cao, nhiệm vụ quốc phòng đượcmở rộng. Nền quốc phòng toàn dân nước ta vừa phải có khả năng ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực thù địch, vừa phải giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phải có đủ sức mạnh ngăn chặn, đẩy lùi mọi nguy cơ chiến tranh, đáp ứng mọi yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là xây dựng cả lực lượng và thế trận; xây dựng tiềm lực mọi mặt, đặc biệt là tiềm lực chính trị - tinh thần; phát huy sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, trong đó xây dựng thế trận có tầm quan trọng đặc biệt. Thế trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới phải đáp ứng yêu cầu: Khi chưa xảy ra chiến tranh thì toàn dân hăng hái lao động sản xuất, mọi công dân đều có trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; khi chiến tranh xảy ra thì thực hiện chiến tranh nhân dân "cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc", tạo ra những "tấm lưới sắt", "bức thành đồng", "thiên la địa võng" bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đó là sức mạnh vô địch của nhân dân ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trong tình hình mới đang tập trung thực hiện tốt những vấn đề cơ bản sau:

Một là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong thế trận chung bảo vệ Tổ quốc.

Trước sự phát triển của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, quốc phòng và an ninh của nước ta ngày càng quan hệ chặt chẽ, không tách rời nhau. Sự kết hợp giữa quốc phòng và an ninh là sự gắn kết giữa hai lĩnh vực cơ bản trong thực hiện cùng một mục tiêu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tại Hội nghị T.Ư 8 (khóa IX), Đảng ta nhấn mạnh: "Củng cố và hoàn thiện nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn tỉnh, thành phố, đặc biệt là trên các địa bàn chiến lược; xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc" (1). Đại hội X của Đảng khẳng định: "Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân"(2). Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm trên của Đảng trong xây dựng thế trận quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng thế trận bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa phải bảo đảm sự thống nhất và kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và các hoạt động đối ngoại nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Sự kết hợp đó phải bảo đảm sử dụng có hiệu quả mọi lực lượng vật chất và tinh thần, cả con người và trang bị, nhằm hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, đồng thời phải phù hợp tính chất đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động. Sự kết hợp đó không chỉ thực hiện ở tầm vĩ mô, mà còn phải triển khai cụ thể và thực hiện tốt ở từng địa phương, cơ sở. Phải phát huy tốt vai trò nòng cốt của quân đội và công an trong xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) - nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân.

Khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) là một "tổ chức quốc phòng - an ninh ở địa phương, được xây dựng trên địa bàn lãnh thổ cấp tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương), huyện (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh). Đó là một bộ phận hợp thành, là nền tảng của thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân cả nước. Được xây dựng vững mạnh về mọi mặt theo kế hoạch chung, thống nhất; nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp tại chỗ, độc lập, tự lực ngăn chặn và đối phó hiệu quả mọi tình huống cả thời bình, thời chiến để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ chế độ, bảo vệ công cuộc xây dựng hòa bình của nhân dân, bảo vệ tiềm lực mọi mặt của địa phương; hoạt động theo cơ chế lãnh đạo, quản lý, điều hành và chỉ huy thống nhất"(3). Xây dựng khu vực phòng thủ là xây dựng tỉnh (thành phố) vững mạnh không chỉ về quốc phòng, an ninh mà còn cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Khu vực phòng thủ vừa phải bảo đảm yêu cầu bảo vệ và tác chiến trên địa bàn toàn tỉnh (thành phố), vừa nằm trong thế trận liên hoàn phòng thủ quốc gia, góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân của đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Trong tình hình mới, cần tập trung sức xây dựng các "trụ cột" cơ bản của khu vực phòng thủ: chính trị - tinh thần, kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh. Xây dựng hệ thống chính trị là một nội dung cốt lõi của việc xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố). Sự vững chắc của khu vực phòng thủ tỉnh (thành phố) được quyết định bởi sự vững mạnh của hệ thống chính trị, đặc biệt đối với các cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở. Cấp ủy và chính quyền các cấp không chỉ lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội; mà còn lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, an ninh trong khu vực phòng thủ. Để đáp ứng nhiệm vụ đó, cần tập trung sức xây dựng và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị; đặc biệt chăm lo xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng hệ thống chính quyền các cấp vững mạnh toàn diện. Đây là vấn đề rất cơ bản để bảo đảm hệ thống chính trị đủ sức thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức xây dựng tỉnh (thành phố) thành khu vực phòng thủ vững chắc.

Kinh tế - xã hội là cốt "vật chất" bảo đảm sự vững chắc của khu vực phòng thủ. Không có cơ sở kinh tế vững mạnh, hoặc sự phát triển kinh tế không đúng định hướng, gây ra những xáo động về xã hội thì cũng không thể xây dựng được khu vực phòng thủ vững chắc. Việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh là nội dung đặc biệt quan trọng trong xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng, an ninh của khu vực phòng thủ. Điều đó đòi hỏi trong phát triển kinh tế phải tính đến nhu cầu quốc phòng, an ninh và phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ quốc phòng, an ninh; việc bố trí, quy hoạch phát triển kinh tế phải trên cơ sở xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững chắc trên địa bàn.

Ba là, xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, "thế trận lòng dân" - nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.

Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của nền quốc phòng toàn dân đòi hỏi phải tạo dựng được "thế trận lòng dân" vững chắc. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh: "Xây dựng cơ sở chính trị - xã hội, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; coi trọng xây dựng thế trận trên các địa bàn chiến lược trọng yếu" (4). Đại hội X xác định rõ: "Xây dựng "thế trận lòng dân" làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc" (5). Thực chất xây dựng "thế trận lòng dân" là khơi dậy, quy tụ và phát huy chính trị - tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân trong thế trận quốc phòng - an ninh chung.

Đây là nét đặc sắc trong nghệ thuật giữ nước, chống ngoại xâm của dân tộc, phản ánh sâu sắc bản chất và sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân nước ta trong thời kỳ mới; ngăn chặn những hành động phá hoại, những mưu toan thôn tính, xâm lược từ bên ngoài. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ là yêu cầu và biện pháp quan trọng của chiến lược xây dựng quốc phòng trong tình hình mới.

Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, tệ quan liêu, tham nhũng... đang là vấn đề nhức nhối. Do đó, vấn đề chống quan liêu, tham nhũng, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên cần được xem xét như là một yêu cầu, giải pháp đặc biệt quan trọng của việc xây dựng "thế trận lòng dân", nâng cao khả năng quốc phòng. Theo đó, trong những năm tới, chúng ta "phải dành nhiều công sức tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiền phong của Đảng; xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực. Đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta" (6).

Cần thấy rõ tầm quan trọng của vấn đề bảo vệ Đảng và xây dựng Đảng đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với nhiệm vụ là đòi hỏi bức thiết của tình hình, là mục tiêu, nhiệm vụ của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; đến lượt mình, Đảng lại là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là mối quan hệ biện chứng thống nhất, cùng vận động chi phối quá trình phát triển của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, các khu quốc phòng - kinh tế - nội dung quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng.

Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế là nội dung quan trọng trong xây dựng thế trận quốc phòng bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế vừa có vị trí quan trọng trong thế trận quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, ven biển, vừa có ý nghĩa chiến lược đối với thế trận quốc phòng chung của cả nước. Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế vững mạnh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là tạo nên thế trận quốc phòng toàn dân và "phên dậu" bảo vệ Tổ quốc ở vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới, biển đảo. Đây là một nhiệm vụ mới và đang trong quá trình phát triển. Đến nay, chúng ta đã xây dựng được hệ thống các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế mang lại những hiệu quả to lớn về kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh trên các vùng trọng yếu, địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, góp phần quan trọng củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.

TRONG thời gian tới, cần "Tiếp tục phát triển các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các khu quốc phòng - kinh tế với mục tiêu tăng cường quốc phòng - an ninh là chủ yếu, tập trung vào các địa bàn trọng điểm chiến lược và các khu vực nhạy cảm trên biên giới đất liền, biển đảo" (7). Để thực hiện chủ trương này, vấn đề quan trọng là cần thực hiện tốt hơn nữa các chính sách, chế độ đối với lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, biển đảo; chú ý chế độ phụ cấp ưu đãi, chế độ luân chuyển công tác. Thực hiện các chính sách, chế độ tạo điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ có thể yên tâm gắn bó với đơn vị lâu dài, lập gia đình, định cư và sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, góp phần tạo nên các khu dân cư dọc biên giới, gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng "phên dậu" vững chắc bảo vệ Tổ quốc.

-------------

(1) Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb CTQG, H.2003, tr.56.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.110.

(3) Tổng cục Chính trị, CTĐ và CTCT trong công tác quân sự, quốc phòng, Giáo trình đào tạo cán bộ chính trị cấp chiến thuật - chiến dịch, Nxb QĐND, H.2003, tr.265.

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.118.

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.109, 110.

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.130.

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.110.