Trong vòng 15 năm qua, Việt Nam đã có được những nền tảng khá thuận lợi khi nhanh chóng đạt tới giai đoạn 1 của công nghiệp hóa (giai đoạn phát triển dựa trên chế tác đơn giản, lợi thế địa lý, tài nguyên và lao động dồi dào).
Hơn thế, tốc độ tăng trưởng của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong những năm gần đây cũng được giới phân tích kinh tế vĩ mô đánh giá là thế mạnh của Việt Nam trong bước chuyển lên giai đoạn 2 (giai đoạn phát triển công nghiệp hỗ trợ với sự hỗ trợ lớn từ nguồn vốn bên ngoài).
Hiện tại, một số nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Malaysia đang ở thời kỳ cuối của giai đoạn 2 này.
Tuy nhiên, bẫy thu nhập trung bình, vốn đã cản bước tiến của nhiều quốc gia khu vực châu Mỹ La - tinh trong nỗ lực gia nhập nhóm các nước công nghiệp phát triển, dường như cũng đang chặn đà chuyển dịch của nhiều quốc gia ASEAN. Ngay cả Malaysia với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người lên tới 7.750 USD (năm 2009) có thể đã là nạn nhân của bẫy vô hình này, khi không tạo nên sự bứt phá nào trong nhiều năm qua. Khi phân tích trường hợp của Malaysia, Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, lý do là mô hình kinh tế của quốc gia này phụ thuộc chủ yếu vào tích lũy vốn.
Vậy Việt Nam có thể tránh được “vết xe đổ” của các quốc gia đi trước hay không?
Thực tế hiện nay, nhìn vào chất lượng dòng vốn FDI tại Việt Nam, xu hướng đầu tư vào lĩnh vực sản xuất - chế tạo (vốn sẽ là nền tảng tiềm năng để đẩy mạnh công nghiệp hóa) đang dần lép vế bởi sức mạnh của thị trường bất động sản, dịch vụ cũng như các lĩnh vực sản xuất yêu cầu nhiều lao động (chứ không cần kỹ năng cao).
Điều đáng nói là, xu hướng này sẽ ảnh hưởng đến mục tiêu công nghiệp hóa của nước ta khi các dự án FDI dựa trên lợi thế về tài nguyên, cho dù vẫn tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, tham gia cung cấp cơ sở hạ tầng căn bản, song không thể tạo nên sự chuyển dịch năng động về cơ cấu và sản xuất.
Cũng phải nhắc tới sự tăng trưởng mạnh về tiền lương trả cho lao động Việt Nam trong những năm gần đây đã trở nên quá cao với các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Trong khi đó, công nghệ lại chưa đủ để hấp dẫn các ngành sử dụng nhiều tri thức. Nếu như chiếu theo quan điểm cho rằng, cách duy nhất để một quốc gia duy trì năng lực cạnh tranh là tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương, thì áp lực của kinh tế Việt Nam là tăng nhanh năng suất lao động.
Bài học của một số quốc gia như Trung Quốc khi vào giai đoạn này là chuyển hướng thu hút FDI sang công nghệ cao, ngừng kêu gọi các dự án sử dụng nhiều lao động.
Tất nhiên, song song với đó là nỗ lực tăng cường giá trị nội lực thông qua sự phát triển của khu vực doanh nghiệp trong nước và sự lựa chọn chủ động, có định hướng rõ ràng đối với các nguồn lực đầu tư, trong đó có dòng vốn FDI.
Trên thực tế, kinh tế Việt Nam đang vận động theo hướng này. Song, có vẻ như khoảng cách giữa các chiến lược và kế hoạch cụ thể vẫn tiếp tục là điểm yếu trong hoạch định chính sách. Việt Nam đã có một tầm nhìn dài hạn, nhưng cần phác thảo con đường chiến lược hướng tới tầm nhìn năm 2020 được hậu thuẫn bằng các kế hoạch, hành động cụ thể. Mà trước hết, Việt Nam phải đảm bảo một vị trí quan trọng trong mạng lưới sản xuất Đông Á.
Một lần nữa, vai trò của khu vực doanh nhiệp tư nhân được nhắc tới như một đối tác quan trọng trong quan hệ công - tư (PPP) chủ động. Trong xu thế này, quan hệ PPP không chỉ dừng lại ở một vài cuộc đối thoại định kỳ trong năm, mà thực sự là trách nhiệm của khu vực tư nhân trong sứ mạng tạo sự đột phá về cả chất lượng chính sách, năng suất lao động lẫn phát triển nguồn nhân lực có đào tạo. Điều này đòi hỏi sự chủ động trong hành động của Chính phủ trong việc tối đa hóa tác động tích cực của cải cách.