“Vua” chế tạo máy nông nghiệp

QĐND - 04/04/2011 21:58

“Vua” che tao may nong nghiep

QĐND Online - Không được học những kiến thức trường lớp nhưng bằng nỗ lực học hỏi “trường đời” ông đã chế ra các loại máy nông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cho bà con nông dân, bằng những việc làm như vậy mọi người yêu mến đặt cho ông Trương Quang Phụ ở thôn An Xuân, xã Quảng An, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế cái tên “vua” chế tạo máy. Năm nay đã bước vào tuổi 62, đáng lẽ cái tuổi nghỉ ngơi sum vầy cùng con cháu nhưng còn “nặng tình” với bà con nông dân ông chưa thể.

Bắt phế liệu đẻ ra tiền tỷ

Sau Tết, trên những cách đồng Thừa Thiên - Huế bà con nông dân xuống đồng chăm sóc lúa sinh trưởng, kịp cho một mùa thu hoạch đúng thời vụ. Trong đợt rét đậm, rét hại vừa qua số diện tích lúa bị chết rất nhiều, những đám ruộng đang ngập nước, bà con nông dân đang phải ngày đêm dùng máy bơm tiêu nước chống úng. Tiếng máy nổ âm vang các cánh đồng – chiếc máy bơm đem lại hiệu quả kinh tế đó chính là sản phẩm từ đôi bàn tay khéo léo của ông Phụ.

Gặp ông Phụ với bộ quần áo lem luốc dầu mỡ, đang ngồi phân loại mớ phế liệu vừa mua về, ông nói: từ những thứ mà người ta vứt bỏ, tôi mang về và biến chúng thành “cơm gạo”.

Cũng từ đây, câu chuyện về “vua” chế máy nông nghiệp được hé mở. Ông Phụ sinh ra ở vùng hạ lưu sông Bồ, gia đình đông con, nghèo khổ. Từ nhỏ ông đã gắn bó với cái cày, con trâu lam lũ ruộng đồng kiếm sống nhưng không thoát khỏi cảnh nghèo đói. Mỗi trận mưa xuống nước ngập lênh láng, có nhiều mùa phải bỏ hoang. Rồi chiến tranh loạn lạc, việc học đành dang dở. Năm 1969, ông nghĩ phải có một cái nghề thì số phận mới đổi thay, và ông quyết định rời ruộng đồng lên thành phố Huế học nghề cơ khí tại một xưởng cơ khí tư nhân.

Sau một thời gian ông đã trở thành thợ chính của xưởng. Mặc dù dấn thân vào cơ khí nhưng suy nghĩ về ruộng đồng không khỏi ám ảnh ông. Hình ảnh về ruộng bị ngập nước mùa mưa, thiếu nước mùa khô cứ hiện lên trong tâm trí. Những người nông dân đang cần máy móc để sản xuất, trong khi túi tiền thì không nhiều. Từ đây cái nghiệp chế máy bắt đầu đến với ông Phụ.

Sau hơn hai năm học nghề, ông đã tích lũy vốn kiến thức của một thợ làm cơ khí và bắt tay vào việc chế máy. Thành quả đầu tiên đã gây được tiếng vang, đó là việc chế thành công máy hút nước vào năm 1972.

Ông Phụ nhớ lại: “Vào những năm đó nông dân ở Huế dùng máy hút nước của Nhật Bản, nhưng số lượng máy rất ít trong lúc nhu cầu sử dụng nhiều. Hơn nữa, hiệu quả đem lại không cao, đã thôi thúc ông mày mò tìm hiểu chế ra được máy hút nước”. Vốn không có nhiều, nguyên liệu để chế ra máy khan hiếm nên ông thường lui tới đến các điểm phế liệu góp nhặt về. Trong vòng thời gian hai tháng ông đã cho ra lò một loại máy hút nước vượt trội so với máy Nhật.

Ông Phụ chia sẻ: “Cũng không khó lắm, từ chiếc chong chóng và vòng quay đơn giản, nếu nắm rõ được nguyên tắc hoạt động thì sẽ có công suất gấp hai máy Nhật”.

Các loại máy nổ 12 sức ngựa để dùng cho máy Nhật chỉ hút được 250 khối/giờ nhưng với những chiếc máy ông chế, dù chỉ 12 sức ngựa đã hút được 500 khối/giờ và tốn ít nhiên liệu hơn, giá thành lại phù hợp với bà con nông dân (từ 1 đến 3 triệu đồng). Tứ đó, những chiếc máy do ông Phụ chế từ sắt vụn đã đến với bà nông dân nhiều tỉnh thành trong nước.

Hạnh phúc với nghề

Để đưa sản phẩm đến với người dân, ông rời thành phố về quê lập nghiệp. Thời hoàng kim là vào những năm 1990, ông làm được cái nào là người ta mua cái đó. Thời gian vụ mùa, nông dân nhiều vùng miền tìm về nhà ông rất đông, có hôm ông phải đưa ra cách bốc thăm để bán và sửa chữa máy cho họ.

Tiếng của ông bay khắp mọi vùng miền. Để cung ứng đủ, ông hướng đến công nghệ sản suất lớn. Cũng từ xưởng cơ khí bé nhỏ đã có hàng trăm người theo học và được ông bày dạy, giờ có công ăn việc làm ổn định. Hiện tại xưởng của ông Phụ có 16 công nhân làm và học nghề với mức thu nhập từ 3 đến 5 triệu/tháng. Khi chiếc máy hút nước đã phủ khắp ruộng đồng thì ông bắt đầu chế thêm nhiều loại máy khác như máy tuốt lúa, may xay xát gạo, máy cày… đem lại công suất cao hơn. Với ông những loại máy móc này không có gì là không chế được.

Xuất phát từ thực tế, năm 2000, khi phong trào đào hồ xây tôm nở rộ ở Thừa Thiên - Huế, ông chế ra chiếc máy xúc có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với máy khác.

Bằng những việc làm giúp ích người dân sản xuất nông nghiệp, năm 2003 ông được ra Hà Nội báo cáo điển hình nông dân có những sáng kiến chế tạo. Cả cuộc đời gắn bó với việc chế máy, với đời thợ cơ khí ông đã thành danh, điều ông tâm đắc nhất là 7 người con của ông thì 5 người được ăn học tử tế, có công ăn việc làm ổn định và 2 người nối nghiệp mình.

Bài, ảnh: Như Ý

Tin mới