Vọng phu không hóa đá!

Xem tin gốc 

Pháp luật & Xã hội - 7 tháng trước 56 lượt xem

(PL&XH) - Sự tích về người đàn bà chờ chồng hóa đá đã đi vào thơ, vào nhạc như thế. Song những người phụ nữ tôi muốn nhắc tới còn thật hơn cả đá vọng phu.

Biết bao cảm xúc trào dâng khi đâu đó vang vọng lời ca "Bao nhiêu năm bồng con đứng đợi chồng về - bao nhiêu phen thời gian xóa phai lời thề - người tung hoành bên núi xa xăm - người mong chồng còn đứng bao năm" - (Lê Thương). Sự tích về người đàn bà chờ chồng hóa đá đã đi vào thơ, vào nhạc như thế. Song những người phụ nữ tôi muốn nhắc tới còn thật hơn cả đá vọng phu. Với các chị, cả cuộc đời xuân sắc đợi chờ để rồi khi tóc đã điểm bạc, lòng thủy chung ấy vẫn son sắt không nguôi… Họ là những người vợ, người mẹ thương con, chờ chồng, thầm lặng hy sinh tất cả cho ngày mai chiến thắng.


Bà Tiếp trong tấm hình của đạo diễn người Pháp Boris Lojkine (ảnh tư liệu)

Bà Trần Thị Tiếp, vợ liệt sĩ Tống Ngọc Lưu ở thôn Kiếu, xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã hy sinh cả tuổi thanh xuân của mình chờ chồng đi đánh giặc. Giờ đã ngoài sáu mươi, bà vẫn nuôi hy vọng tìm thấy mộ chồng nằm đâu đó trên mảnh đất lửa Quảng Trị năm xưa với cả tình yêu bất diệt.

Năm 1965, ở tuổi hai mươi, cuộc tình đẹp như thơ giữa cô thôn nữ Trần Thị Tiếp và chàng trai mới xuất ngũ về làng Tống Ngọc Lưu đã làm cho hai bên gia đình không thể ngăn cản, mặc dù giữa hai nhà không hề "môn đăng hộ đối". Cuộc sống vợ chồng mặn nồng kéo dài chỉ được một tháng thì anh Lưu một lần nữa xung phong vào bộ đội.


Bà Chính thắp hương tìm mộ chồng (ảnh tư liệu)

Sờ lên tấm hình người chồng đã hoen ố, ngả màu vàng không còn nhìn rõ mặt, bà Tiếp nghẹn lời: "Khi tiễn anh ấy ra ga Sen Hồ cách nhà chừng 5 cây số, tôi như có dự cảm không lành vì chiếc xe đạp Thống Nhất bị thủng lốp. Trời gần sáng, mưa gió ở đâu kéo về đánh tơi tả những tàu lá chuối hai bên đường…". Tiếng người chồng văng vẳng bên tai: "Thôi em về đi, đất nước còn chiến tranh, anh không yên lòng. Chờ hòa bình, anh sẽ trở về cùng em…".

Thương nhớ người chồng mới cưới lại ra trận mạc chiến tranh, chị chỉ biết làm vui với mấy sào ruộng. Khi mình có thai, chị vui mừng vô hạn. Thế nhưng, niềm vui vừa được thắp lên thì trong một lần đi làm đồng, chị bị trượt chân, cái thai bị sẩy. Hàng tháng trời sau đó, chị luôn sống trong đau buồn, bệnh tật.


Bà Trần Thị Kim Chính

Những lá thư gửi về từ miền lửa đạn luôn làm trái tim chị ngập tràn hạnh phúc cũng thưa dần rồi bặt tăm. Năm 1979 chị nhận được giấy báo tử của anh. Chị cho rằng, sống thì phải còn người mà chết thì phải có thi thể, chị không tin vào tờ giấy báo tử ấy. Chồng chị không thể quên lời hứa sẽ trở về…

Thương người con dâu hiền thảo, nết na, hết mực chăm lo gia đình, bố mẹ chồng chị đã nhiều lần khuyên chị đi bước nữa vì chị vẫn còn trẻ đẹp, bao nhiêu người đàn ông muốn theo đuổi và tương lai chị còn dài. Nhưng chị nhất quyết một mực đợi ngày chồng về.

Năm 1981, chị nhận nuôi một đứa trẻ mới sinh đã mất mẹ chỉ nặng chưa đầy 2kg. Chị đặt tên con nuôi là Trần Thị Tam. Tam trong chữ "Tam tòng"… để người khác biết rằng trong trái tim chị vẫn khắc khoải đợi chờ… Đến nay, người con gái nuôi ấy đã hơn 20 tuổi, có công ăn việc làm ổn định tại một công ty ở Hà Nội.
Chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm, người vợ ấy một mình làm cuộc hành trình gần 700 cây số từ Bắc Giang đến Quảng Trị đi tìm hài cốt của chồng.

Cuộc hành trình của người phụ nữ lần đầu rời khỏi lũy tre làng Kiểu tới nghĩa trang Hải Lăng được đánh dấu bằng những lời thì thào, những giọt nước mắt chia sẻ. Trung tâm đón tiếp thân nhân liệt sĩ của Bộ LĐ-TB & XH đặt tại Quảng Trị cũng lật từng cuốn sổ dày chi chít chữ giúp bà tìm kiếm tên chồng.

Hai cựu chiến binh cùng đơn vị K10 với liệt sĩ Tống Ngọc Lưu là ông Thơ và ông Đoàn xếp lại việc nhà, lên đường tìm đồng đội sau hàng chục năm mất tin tức, gặp người lính già Nguyễn Văn Đàm (người tự nguyện ở lại để được gần đồng đội, chăm sóc những người đã ngã xuống) nước mắt cứ tuôn chảy như những đứa trẻ.
Những làn khói nhang tỏa trắng cả một vùng bia mộ vô danh, tiếng "keng - keng!" phát ra từ hai đồng tiền cổ với lời khấn: "Nếu anh ở nơi này thì báo cho em bằng âm - dương - sấp - ngửa...". Nhưng những đồng tiền âm dương không thể trả lời bà…

Có lẽ, anh đã mãi nằm lại đâu đó cùng hàng trăm đồng đội của mình bên dòng sông Ô Lâu ôm lấy chân núi vỗ về như ru cho giấc ngủ của các anh. Và bà vẫn chờ đợi, giữ một tình yêu vĩnh cửu...

Người thứ 2 tôi muốn nói là bà Trần Thị Kim Chính. Khi tôi tới tìm bà ở xã Nghĩa Sơn, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định hỏi thì được biết bà đang tần tảo cùng gánh rau ngoài chợ. Mùa này, việc đồng ruộng ít, thân nữ không ra biển được, bà đành ra chợ bán rau, gom nhặt đôi đồng nữa để tiếp tục hành trình lên đường tìm di cốt của chồng. Thấy khách, bà đặt gánh rau chưa hết lên vai, đưa khách về nhà trên con đê quai biển đơn độc.

Năm 1964, ở tuổi 18, người con gái trẻ Trần Thị Kim Chính nên duyên vợ chồng với anh Nguyễn Xuân Hưởng cùng làng. Năm 1966, anh xung phong vào bộ đội. Anh đi, kỷ niệm cuối cùng là buổi tiễn đưa, chị và con đưa anh ra đầu con đê quai. Trao đứa con gái bé bỏng cho chị, anh lên đường.

Tối đến, bên ánh đèn dầu chập chờn, chị ngồi viết thư cho anh và thỉnh thoảng anh cũng có thư về. Sự hồi âm này cũng chỉ có vỏn vẹn trong một năm rồi không còn nữa. Thế rồi năm 1971, chị nhận giấy báo tử anh. "Tôi cảm thấy như bất thần có ai đó cầm một con dao rất bén, rất to và trong nháy mắt xẻ mình ra làm đôi" - bà Chính hãi hùng nhớ lại.

Hòa bình, nhiều liệt sĩ bạn của anh dần được tìm thấy hài cốt, đưa về an táng tại quê hương. Nhưng còn anh… Anh nằm nơi đâu, bằng mọi giá phải tìm được anh và đưa anh về! Suy nghĩ ấy cứ lớn dần lên trong chị.

Năm 1998, giao việc chăm sóc bố mẹ chồng cho con, gọi người đến bán lợn gà cùng số tiền chiu chắt gần 20 năm được cả thảy 6 triệu đồng, chị gói ghém lên đường.

Thông tin về anh mà chị có rất ít ỏi, chỉ biết trước đây anh ở Trung đoàn 141, Sư đoàn 7, đóng tại Bình Phước. Chị bắt xe vào TP. HCMrồi nhảy xe đò xuống Bình Phước. Chỗ có xe khách thì đi xe khách, chỗ không có xe thì đi bộ, ngày đi tìm, tối lại ngủ nhờ tại nhà những người dân tốt bụng, đôi chân trần của chị đã tìm khắp các nghĩa trang như Phước Long, Lộc Ninh, Bù Đốp... Quay lại TP Hồ Chí Minh, chị ở nhờ nhà em họ, tìm đến bóc hành thuê cho một tiệm bánh cuốn. Mỗi ngày trầy tay, chị bóc được 20 cân hành, được 10.000 đồng. Tiếp tục dò tìm thông tin về anh. May mắn, chị được một người cho biết, trước đây anh Hưởng hy sinh tại một quả đồi có tên là đồi Quân Y Bắc Sơn, nằm ở Đắc Ơ, giáp với nước bạn.

Chị mừng quá, vội quầy quả ngược lên Phước Long. Tiền đã cạn, chị ít đi xe, chủ yếu đi bộ. Nhấc bước chân trần đã nứt nẻ, chị lại tìm đến các cơ quan ban ngành đề nhờ vả. Không ai biết đồi Bắc Sơn nằm ở đâu. Chị đi khắp đường 14, qua Suối Dây, qua Kho Xanh, đi khắp vùng vừa đi vừa làm thuê kiếm sống hỏi đường. Gần một năm ở lại Đắc Ơ, trong một buổi đi làm rẫy thuê, chị đã gặp anh Ba Rui. May mắn thay, trước đây Ba Rui từng là giao liên và biết khu đồi ấy nằm gần sông Đa Quýt, giáp với đất Cam-pu-chia.

Được bộ đội biên phòng và dân quân xã trợ giúp, sau gần nửa tháng tìm kiếm, chị và đoàn tìm kiếm đã tìm được những vệt đường mòn và những căn hầm chữ A, thế nhưng rất tiếc là không tìm được một di cốt nào. Ngày cuối cùng định rút ra thì bất ngờ chị phát hiện ra một mộ phần. Sau khi đào, đoàn đã tìm thấy hài cốt của một liệt sĩ quê ở Quảng Trạch, Quảng Bình còn địa chỉ trên bia, sau này gia đình ấy đã coi chị như một ân nhân.

Hiện bà Chính đã về Nam Định tiếp tục làm thuê, gom tiền để tới đây lại vào Bình Phước tìm mộ chồng. Bà cho biết, dù phải tha hương, làm thuê đến trọn đời vẫn tìm chồng…

Hai người phụ nữ, hai vùng quê khác nhau nhưng cùng có chung một cảnh ngộ, thủy chung chờ chồng. Và còn biết bao những người phụ nữ Việt Nam như hai người phụ nữ này. Họ là những hình tượng sống, sẽ mãi bất tử với những hy sinh cao cả mà suốt cuộc đời họ đã thầm lặng chịu nỗi đau mất mát.

Tôi đã từng nghe một ký giả ngoại quốc nhận xét như thế này về người phụ nữ Việt Nam: " Họ là những người có sức chịu đựng trên mức tưởng tượng của con người. Lòng thủy chung của họ đáng để cho chúng ta cúi đầu kính phục!".

Đ.Hạnh

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang