Vốn đầu tư: Có bột mới gột nên hồ

Xem tin gốc 

Pháp luật TPHCM - 29 tháng trước 11 lượt xem

Để ngăn chặn suy giảm tăng trưởng kinh tế, phải áp dụng nhiều biện pháp, trong đó kích cầu là biện pháp tổng hợp quan trọng nhất. Kích cầu có nhiều cách, trong đó kích cầu đầu tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vốn đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, bởi "có bột mới gột lên hồ".

Về lĩnh vực đầu tư năm 2009, Việt Nam đã đạt được những kết quả nổi bật:

Tổng quát nhất là tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đã tăng cả về quy mô tuyệt đối, cả về tỷ lệ so với GDP. Về quy mô tuyệt đối, tổng vốn đầu tư phát triển đạt gần 710.000 tỉ đồng, tăng 16% so với năm trước. Đây là tốc độ tăng khá cao, cao hơn tốc độ tăng GDP tính theo giá thực tế (16% so với 13,6%). Nhờ vậy, tỷ lệ tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP đã đạt 42,2%. Đây là tỷ lệ cao hơn năm trước (41,3%) và cũng là tỷ lệ thuộc loại cao nhất trên thế giới, có chăng chỉ thấp thua tỷ lệ tương ứng của Trung Quốc. Điều đó chứng tỏ vốn đầu tư là yêu tố lớn nhất trong ba yếu tố đóng góp vào tốc độ tăng trưởng GDP (yếu tố vốn đầu tư đóng góp khoảng 57,5%, yếu tố lao động đóng góp khoảng 20%, yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp- gồm năng suất lao động hiệu quả đầu tư,... đóng góp 22,5%), thì nay càng đóng góp nhiều hơn vào tốc độ tăng trưởng. Về điều này, hiện có những ý kiến khác nhau, trong đó có ý kiến cho rằng tăng trưởng dựa nhiều vào vốn đầu tư là hạn chế, bất cập của nền kinh tế nước ta. Nhưng đó là trong điều kiện bình thường và xét về lâu dài, còn trong điều kiện có tác động của cuộc khủng hoảng làm suy giảm tăng trưởng kinh tế, thì tăng đầu tư là sự lựa chọn cần thiết cấp bách.

Một kết quả tích cực khác là cơ cấu nguồn vốn đầu tư đã chuyển dịch theo hướng phù hợp. Sự phù hợp ở đây được xét theo hai nghĩa.

Nghĩa thứ nhất là tranh thủ nguồn ngoại lực - nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Do cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, lượng vốn đầu tư nước ngoài bị sụt giảm là khó tránh khỏi. Hơn nữa, việc sụt giảm so với năm trước (là năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO có lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài không những đạt kỷ lục mà còn gấp nhiều lần các năm trước) đã được dự đoán từ trước và có thể lý giải được. Do giảm ít hơn tổng số nên tỷ trọng của vốn đăng ký bổ sung đã tăng từ 8% lên 25,9%. Điều đó chứng tỏ các nhà đầu tư cũ đã nhận ra kỳ vọng đầu tư ở Việt Nam. Năm 2009 lượng vốn ODA ký kết đạt trên 5 tỉ USD, lượng vốn ODA giải ngân đạt khoảng 3 tỉ USD. Đó là những con số lớn nhất từ trước tới nay.

Như vậy, đây là năm thứ 17, Việt Nam đã tiếp nhận ODA. Về mặt này, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả. Đã thu hút được nhiều nhà tài trợ quốc tế (22 nhà trài trợ đa phương, 29 nhà tài trợ song phương, khoảng 600 tổ chức phi chính phủ). Lượng vốn cam kết tính đến nay đạt khoảng 57,5 tỉ USD; lượng vốn ký kết đạt trên 40 tỉ USD; lượng vốn giải ngân đạt trên 23,7 tỉ USD. Nguồn ngoại tệ mạnh này đã góp phần cải thiện cán cân thanh toán tổng thể và dự trữ ngoại hối của đất nước. Trong tổng vốn ODA có khoảng 20% là viện trợ không hoàn lại, khoảng 80% là vốn vay ưu đãi (thời hạn vay dài, có lãi suất khá thấp so với lãi suất vay thương mại, có thời gian ân hạn,...). Quan trọng hơn, ODA thể hiện sự ủng hộ chính trị, lòng tin của các nhà tài trợ "trông giỏ bỏ thóc" đối với Việt Nam.

Nghĩa thứ hai là trong điều kiện lượng vốn đầu tư nước ngoài bị sụt giảm, nguồn vốn trong nước đã tăng khá để không những bù cho sự sụt giảm của vốn đầu tư nước ngoài, mà còn làm tăng tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội để ngăn chặn suy giảm tăng trưởng kinh tế, giải quyết công ăn việc làm. Trong nguồn vốn trong nước, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước đạt quy mô khá. Đây là một cố gắng lớn trong điều kiện thu, chi ngân sách còn bị mất cân đối.

Một kết quả tích cực nữa là gói kích cầu. Trong các giải pháp, đáng chú ý có giải pháp hỗ trợ lãi suất vay vốn lưu động 4%/năm, thực hiện từ tháng 4 đến hết tháng 12-2009. Việc cấp bù lãi suất, vay vốn lưu động có 4 điểm nổi bật: là giải cách làm riêng có và sáng tạo của Việt Nam; phù hợp với nguồn lực còn hạn chế của Việt Nam (1 tỉ USD, tương đương với 17.000 - 18.000 tỉ đồng, hiện mới hết khoảng 10 nghìn tỷ đồng); có tác động để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, giảm chi phí vay vốn, có lan tỏa; liên ngành); là nguồn vốn "mồi" có tác động kéo một lượng vốn lớn gấp nhiều lần (trên 400.000 tỉ đồng) từ ngân hàng thương mại ra cho sản xuất, kinh doanh.

Nhờ đầu tư đạt khá, nên đã góp phần quan trọng ngăn chặn suy giảm tăng trưởng kinh tế, thoát đáy vượt dốc đi lên. Tăng trưởng GDP năm 2008 đạt 6,18%, quý I-2009 chỉ đạt 3,1%, nhưng từ quý II đã tăng lên và cả năm tăng hơn 5,2%, vượt mục tiêu điều chỉnh, cao nhất các nước trong khu vực và thuộc trong số ít nước tăng cao trên thế giới.

Theo TBTCVN số Tết

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang