Vitranss2: Các dự án đường thủy được đánh giá cao nhất về hiệu quả đầu tư

Xem tin gốc 

Báo GTVT - 28 tháng trước 111 lượt xem

Ý tưởng chủ đạo của Vitranss2 là đề xuất cho Việt Nam một mạng lưới GTVT bền vững, để hỗ trợ thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng và giảm nghèo.

Xác định và đánh giá các dự án GTVT ở tất cả các chuyên ngành, đề xuất các dự án ưu tiên đầu tư là một nội dung lớn của VITRANSS2 - Nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững hệ thống GTVT Việt Nam - do JICA (cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản) thực hiện theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam. Những đề xuất của VITRANSS2 được cho là một trong các cơ sở để triển khai các dự án GTVT cụ thể trong tương lai ở Việt Nam.

210 dự án đầu tư cho giai đoạn đến năm 2020

Tổng số các dự án GTVT được VITRANSS2 đưa ra xem xét tại nghiên cứu ban đầu cho một chương trình tổng thể về phát triển mạng lưới GTVT đa phương thức của Việt Nam đến giai đoạn năm 2030 lên đến 396 dự án, tổng số vốn đầu tư theo nhu cầu này lên tới 166.753 triệu USD, tính theo giá trị tại thời điểm năm 2008.

Trên ý tưởng chủ đạo này, các chuyên gia đã tiến hành các khảo sát thực tế đối với tất cả các phương thức GTVT tại các vùng, miền của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu các kịch bản về tốc độ phát triển kinh tế quốc gia, để tính toán nhu cầu GTVT quốc gia từng giai đoạn đến năm 2030. Từ đó, VITRANSS2 xây dựng các chiến lược và quy hoạch từng chuyên ngành Đường bộ, Đường sắt, Cảng và vận tải biển, Đường thủy nội địa, Hàng không, GTVT và đô thị, GTVT trên hành lang vận tải chính của Quốc gia (trục Bắc - Nam) trong mối liên hệ với nhau của một mạng lưới và dịch vụ vận tải đa phương thức. Từ chiến lược và quy hoạch chuyên ngành, VITRANSS2 đề xuất danh sách các dự án đến năm 2030 của Đường bộ, Đường sắt, Cảng và vận tải biển, Đường thủy nội địa, Hàng không.

Từ danh sách ban đầu này, VITRANSS2 đưa ra phân tích đa tiêu chí, để xác định thứ tự ưu tiên cho dự án, lựa chọn ra Chương trình trọng điểm của từng chuyên ngành và đưa vào Quy hoạch tổng thể (Kế hoạch trung hạn - đến năm 2020) và Chương trình đầu tư ngắn hạn (2011-2015). 7 tiêu chí được đưa ra phân tích gồm có: Nhu cầu vận tải (tấn-km và hành khách-km), tính khả thi về kinh tế (EIRR), tính khả thi về tài chính (FIRR hay nhu cầu/chi phí), vai trò trong mạng lưới (tuyến trục/hành lang chính, tuyến phụ/hành lang thứ yếu), tác động tới môi trường tự nhiên, độ chín của dự án, sự phù hợp với quy hoạch hoặc chiến lược phát triển quốc gia.

210 dự án (trong đó có 131 dự án đã nằm trong các quy hoạch GTVT được Chính phủ phê duyệt và 79 dự án có mức ưu tiên đầu tư cao theo các tiêu chí của VITRANSS2) đã được lựa chọn đưa vào quy hoạch tổng thể GTVT đến năm 2020, tổng mức đầu tư 49.071 triệu USD. Giai đoạn đến năm 2020, nếu tính thêm phần đầu tư cho 2 đoạn đường sắt cao tốc Bắc - Nam (TP Hồ Chí Minh - Nha Trang và Hà Nội - Vinh), tổng số sẽ lên đến 70 tỉ USD. Trong khi lượng vốn có thể huy động được của quốc gia ở mức thấp nhất là 37 tỉ USD (dựa trên kịch bản GDP phát triển thấp và mức huy động cho GTVT ở mức 3% GDP) và cao nhất có thể lên đến 96,3 tỉ USD (dựa trên kịch bản GDP phát triển cao và mức huy động cho GTVT ở mức 7% GDP).

Các dự án có hiệu quả đầu tư cao

Các dự án này được đưa ra phân tích tính khả thi về kinh tế và tài chính. Tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá cơ bản là dựa trên các chỉ số EIRR (chỉ số kinh tế, tính bằng lợi ích/chi phí dự án, trên 12%) và FIRR (chỉ số tài chính, tính bằng tỉ lệ doanh thu/chi phí, trên 15%).

Đánh giá tất cả các dự án theo chuyên ngành, hiệu quả đầu tư lần lượt được sắp xếp theo thứ tự như sau: Các dự án đường thủy (EIRR 24,8%), các dự án đường bộ (EIRR 13,4%), các dự án cảng (EIRR 11,3%), các dự án đường cao tốc (EIRR 10,1%), các dự án hàng không (EIRR 7,1%), các dự án đường sắt (EIRR 4,1%).

Trong số 44 dự án đường bộ cao tốc (giả định năm khai thác là 2020) được đưa ra đánh giá, có 12 dự án trong đó có chỉ số EIRR cơ sở đạt từ 12% trở lên, một số dự án có FIRR đạt xấp xỉ 15%.

Trong đó những dự án đường bộ cao tốc có hiệu quả kinh tế lớn nhất có thể kể đến là: Biên Hòa - Vũng Tàu, Cầu Giẽ - Ninh Bình, Vinh - Hà Tĩnh, TP Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Long Thành - Bến Lức, TP Hồ Chí Minh - Dầu Giây, Ninh Bình - Thanh Hóa, TP Hồ Chí Minh - Trung Lương, Láng - Hòa Lạc, Đường vành đai 4 Hà Nội và Đường vành đai 3 TP Hồ Chí Minh. Kết luận của VITRANSS2 là: Nhanh chóng hoàn tất xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam để cung cấp dịch vụ vận tải chất lượng cao trên tuyến hành lang chính của quốc gia đang nhanh chóng đô thị hóa; phát triển tuyến đường bộ cao tốc để đảm bảo giao thông thông suốt trên các đoạn tuyến, tránh xảy ra giao thông hỗn hợp.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang