Vietcombank: Vững vàng sau cổ phần hóa

FinancePlus - 

(Tài chính) Nhìn lại trang sử đáng tự hào của Vietcombank không thể bỏ qua những nét son được ghi dấu trong 5 năm cổ phần hóa (CPH). Càng tự hào hơn, những nét son này đang được tập thể cán bộ, nhân viên Vietcombank tiếp tục viết nên bằng khát vọng, niềm tin và sức mạnh vươn mình…

Tổng tài sản của Vietcombank tại thời điểm 31/12/2012 đạt gần 415.000 tỷ đồng. Nguồn: internet

Sức mạnh vươn mình

Hành trang để Vietcombank phấn đấu trở thành tập đoàn tài chính hàng đầu khu vực chính là khát vọng, niềm tin ở mỗi cán bộ, nhân viên và dựa trên nền tảng được tạo dựng trong 50 năm qua. Niềm tin, khát vọng tạo nên động lực và sức mạnh giúp Vietcombank không ngừng chuyển mình, phát triển.

Bước ngoặt lớn nhất trong chặng đường phát triển của Vietcombank là vào cuối năm 2007, khi Ngân hàng chính thức tiến hành CPH. Thời điểm này, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế bắt đầu diễn ra. Hàng loạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế của đất nước bị ảnh hưởng, kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (DN) hứng chịu những tác động xấu, tiến độ CPH và niêm yêt trên sàn của hàng nghìn DN bị đình trệ… Tuy nhiên, Vietcombank vẫn phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) thành công, với giá bình quân trên 100.000 đồng/cổ phiếu. Sau khi CPH, Vietcombank tiếp tục phát huy sức mạnh, khẳng định vị thế của mình bằng những kết quả tăng trưởng trên mọi lĩnh vực hoạt động. Không lâu sau, Vietcombank chính thức niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán.

Sự thành công này là do Vietcombank đã tích cực phát huy thế mạnh sẵn có, linh hoạt, nhạy bén, đổi mới, chủ động nắm bắt cơ hội kinh doanh, vượt qua thách thức, duy trì được đà phát triển trong suốt 5 năm sau CPH, an toàn và hiệu quả hoạt động được đảm bảo… Thành tựu này cũng được tập thể lãnh đạo, nhân viên Viecombank điểm lại bẳng những nét cơ bản:

Thứ nhất, tăng trưởng ổn định, hoạt động an toàn, hiệu quả. Tổng tài sản của Vietcombank tại thời điểm 31/12/2012 đạt gần 415.000 tỷ đồng, tăng 192.000 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2008, mức tăng bình quân là 17%/năm. Mức tăng trưởng huy động vốn bình quân trên 17%/ năm, trong đó năm 2010 và 2012 đạt trên 20%. Tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 21%/năm, đưa tổng dư nợ cho vay tăng từ gần 113.000 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2008 lên 241.000 tỷ đồng tại thời điểm cuối năm 2012. Tổng thu nhập trước dự phòng rủi ro tín dụng tăng từ 6.300 tỷ đồng năm 2008 lên 9.000 tỷ đồng trong năm 2012, tăng bình quân trên 9%/năm. Tương tự, lợi nhuận trước thuế tăng từ 3.600 tỷ đồng lên gần 5.800 tỷ đồng, tương đương với tốc độ tăng bình quân 13%/năm. Các chỉ tiêu hiệu quả sinh lời của tài sản và vốn chủ sở hữu được duy trì ở mức tương đối cao so với trung bình của ngành.

Thứ hai, mô hình và bộ máy tổ chức được củng cố, hoàn thiện. Vietcombank đã thực hiện cơ cấu lại khối vốn, khối tín dụng, khối quản lý rủi ro thông qua thành lập mới và bổ sung chức năng, nhiệm vụ một số phòng, ban; xây dựng khối tài chính, khối bán lẻ; thành lập Trung tâm Công nghệ thông tin, Trung tâm Thẻ trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Tin học và Phòng Quản lý thẻ.

Thứ ba, mạng lưới hoạt động không ngừng được mở rộng, trong 5 năm qua, 181 phòng giao dịch đã được thành lập mới trên địa bàn cả nước; số chi nhánh được nâng từ 61 (năm 2008) lên 79 (năm 2012); đưa Công ty Chuyển tiền Vietcombank tại Mỹ vào hoạt động từ năm 2010.

Thứ tư, chính sách quản trị rủi ro được hệ thống hóa và thực hiện đồng bộ trong toàn hệ thống. Từ quý II/2010, Vietcombank đã đưa vào áp dụng hệ thống phân loại nợ định tính (được xây dựng trên cơ sở tư vấn của Ernst & Young và được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt). Do đó, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank luôn phản ảnh trung thực, minh bạch chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Do chú trọng thu hồi nợ, tích cực xử lý nợ xấu nên tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank đã giảm từ 4,6% tại thời điểm 31/12/2008 xuống còn 2,4% tại thời điểm 31/12/2012 và luôn dưới mức 3% trong giai đoạn 2009 - 2012.

Thứ năm, triển khai thành công nhiều đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ. Cụ thể, phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, tăng vốn điều lệ thêm 9,28% (năm 2010) và 33% (năm 2011) với giá phát hành bằng mệnh giá; trả cổ tức năm 2010 bằng cổ phiếu, tăng vốn điều lệ thêm 12% (năm 2011), sau đó phát hành riêng lẻ 15% vốn cổ phần cho cổ đông chiến lược Mizuho Corporate Bank (năm 2011). Tại thời điểm 31/12/2012, vốn điều lệ của Vietcombank đạt 23.174 tỷ đồng, tăng 91,5% so với thời điểm 31/12/2008; quy mô vốn chủ sở hữu đạt 41.553 tỷ đồng, tăng gần 198% so với năm 2008.

Định hướng cho tương lai

Trên cơ sở kết quả hoạt động trong 5 năm qua, Ban lãnh đạo Vietcombank xác định, giai đoạn 2013 - 2018 tiếp tục bám sát chiến lược 2011 - 2020 đã được phê duyệt, phát huy mọi lợi thế, tranh thủ mọi cơ hội, linh hoạt, nhạy bén và quyết liệt trên mọi phương diện nhằm tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng các mặt hoạt động của Ngân hàng, đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. Cụ thể:

- Hoàn thiện mô hình tổ chức hướng đến mô hình tập đoàn ngân hàng tài chính đa năng hiện đại, đi đôi với tăng cường năng lực quản trị điều hành và năng lực kinh doanh.

- Rà soát, chuẩn hóa mô hình chi nhánh, phát triển mạng lưới giao dịch theo chiều rộng và chiều sâu, từng bước mở rộng mạng lưới hoạt động ra thị trường quốc tế.

Trong 5 năm tới, Vietcombank dự kiến, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản đạt 9 - 12%/năm, tăng trưởng tín dụng và huy động vốn từ 12 - 16%/năm, tỷ lệ nợ xấu khống chế dưới 3%, ROE đạt 12 - 15% và hệ số an toàn vốn CAR từ 10 - 12%.

- Đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng, tích cực xử lý các khoản nợ tồn đọng.

- Đa dạng hóa kênh huy động vốn cũng như cấp tín dụng trong nước, mở rộng mạng lưới khách hàng đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, khách hàng cá nhân bên cạnh việc giữ chân các khách hàng truyền thống. Sẵn sàng và chủ động tiếp cận thị trường vốn quốc tế khi điều kiện thuận lợi.

- Rà soát danh mục đầu tư góp vốn, tái cơ cấu phù hợp, có kế hoạch và lộ trình tái cơ cấu các công ty con.

- Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ, nâng dần tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ trong cơ cấu thu nhập chung, củng cố thị phần trong các dịch vụ ngân hàng truyền thống như dịch vụ thanh toán, dịch vụ thẻ; đẩy mạnh phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại.

- Tiếp tục hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro; nâng cao vai trò của bộ máy kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ.

Bài đăng trên Tài chính & Đầu tư số 8 - 2013