Nhà nghiên cứu văn hóa Hà Minh Du.
(LĐ) -
Viết như sợ ngày mai không còn sức để làm việc, không còn sức để đi và lưu lại những nét độc đáo của văn hóa Mường mà suốt gần 50 năm qua ông vẫn miệt mài tìm kiếm.
Hành trình sưu tầm văn hóa Mường
Trong ngôi nhà nhỏ, người đàn ông với vóc dáng hao gầy, vẫn cắm cúi bên chiếc máy tính, tiếng lách cách đều đều vang lên, ông vẫn đang miệt mài làm cái công việc mà ông đã làm suốt 50 năm qua. Ở tuổi ngoài 80, trên vầng trán đã nhiều dấu hiệu của tuổi bóng xế.
Sinh ra và lớn lên từ cái nôi hát xường (Mường Ne, làng Quan Trì, xã Yên Lâm, huyện Yên Định, Thanh Hóa), từ nhỏ, cậu bé Minh Du đã được nghe các bà, các mẹ, các chị hát, làn điệu, lời ca xường như thấm vào ông từ lúc nào không hay. Tình cảm đó đã thôi thúc ông bằng mọi giá lưu giữ lại những nét độc đáo trong văn hóa, nếp sống, sinh hoạt của của người Mường xứ Thanh...
Năm 1963, ông làm việc ở Ty Giáo dục, nay là Sở Giáo dục - Đào tạo Thanh Hóa, được giao phụ trách công tác giáo dục miền núi của tỉnh. Đây là cái duyên cớ giúp ông thực hiện được mong muốn sưu tầm và lưu giữ văn, hóa người Mường một cách có hệ thống, đồng thời cũng lý giải tại sao ông Hà Minh Du không phải là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, không phải một nhà khoa học, một nhà văn mà lại sưu tầm và tập hợp được gần như đầy đủ về văn hóa người Mường với những trang bản thảo viết tay và đánh máy lên đến hàng ngìn trang.
Trong những năm còn làm ở Ty Giáo dục, tận dụng những chuyến công tác ở các huyện miền núi trong tỉnh và các tỉnh bạn, chỉ với cây bút, quyển sổ cùng chiếc xe đạp, bàn chân ông đã đi khắp các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Lai Châu, ông đã tìm kiếm, ghi chép tỉ mỉ những tư liệu nghiên cứu...
Ông nói: “Mỗi bản Mường đi qua, tôi lại khám phá được những thú vị mới về văn hóa ngọn nguồn và nhận thấy sự khác biệt mang nét đặc trưng riêng trong cách sống, nếp sinh hoạt theo từng địa bàn cư trú. Không có máy ghi âm, tất cả tài liệu thu thập được, tôi đều chép tay vào cuốn sổ nhỏ, hay bất kỳ tờ giấy hoặc vật gì có thể viết được, kể cả tờ lịch vạn niên cũng trở thành vật lưu giữ một phần phần văn hóa người Mường”.
Hiện nay, các trang bản thảo của ông nhiều vô kể. Vợ ông - bà Bùi Thị Ngãi biết ý, mỗi tờ giấy rơi đều được cất cẩn thận vì bà biết đó là những trang bản thảo ông đã vất vả ghi lại được suốt cả cuộc đời làm việc miệt mài, cùng tâm huyết muốn lưu giữ lại nét đặc sắc của dân tộc mình.
Năm 1973 sau khi công bố sử thi “Đẻ đất, đẻ nước” của người Mường, ông Hà Minh Du được Ban Nghiên cứu văn hóa dân gian tỉnh giao cho công việc tìm hiểu để lập thành từ điển của bộ sử thi này, trong quá trình sưu tầm, ông đã mở rộng ra tìm và sưu tầm bộ Từ điển Mường – Việt.
Ông tâm sự: “Cái khó của người đi sưu tầm là làm sao để người ta cung cấp cho mình những tư liệu, hay nhớ lại các luật tục từ thời cha ông chỉ còn đọng lại trong ký ức, phải làm sao để họ nhiệt tình nói để ghi lại mới là điều quan trọng. Việc góp nhặt những nét văn hóa đang dần mai một cũng như một công việc tìm lại những gì tồn tại trong quá khứ dài miên man, ghép lại với nhau để hình dung ra từ xa xưa tổ tiên người Mường đã sống và tạo nên nét văn hóa riêng khác nhau với các dân tộc anh em trên mọi miền đất nước ra sao”.
Chạy đua cùng thời gian
Bao nhiêu năm lặn lội khắp các vùng sơn cước của xứ Thanh và các tỉnh bạn, tìm gặp các vị cao tuổi, các già làng trưởng bản, nghe họ nói, ghi lại từng câu ca dao, tục ngữ, truyện thơ Mường, truyện hài hước, các nét đặc sắc của người Mường từng vùng khác nhau. Đến giờ chân đã chậm, mắt đã mờ, gối đã mỏi, vậy mà mỗi ngày ông vẫn làm việc hăng say.
Bà Ngãi - vợ ông - kể: “Nhiều hôm ông ấy làm việc say sưa quá quên cả giờ giấc, mãi đến khi nghe tiếng gà gáy mới biết là đã sáng, ông ấy rời khỏi bàn viết ra sân tập thể dục, sau đó lại tiếp tục công việc viết, sửa, hoàn thành những trang bản thảo. Ông ấy viết như chạy đua cùng với thời gian, với tuổi già đang ngày một yếu, như sợ trời không cho mình còn nhiều sức khỏe, cùng sự minh mẫn để hoàn thành công trình cả đời tâm huyết”.
Trước kia, do khó khăn, không có điều kiện bảo quản tốt, ông gói các tập bản thảo vào những túi nylon, nhưng vẫn bị ố, bị gián gặm, mọt giấy làm mòn rách, những trang như thế khi có thời gian ông lại phải ngồi chép lại tỉ mỉ, có những bản phải chép lại tới hai - ba lần.
Một năm trở lại đây, ông đã chuyển từ viết tay, máy đánh chữ sang viết trên máy tính, nên ông dễ dàng chỉnh sửa, ông cũng đỡ vất vả hơn nên mỗi bản thảo ông làm nhanh hơn, khi cần chỉ việc mở ra xem. Việc tôi đang làm, cũng như một hạt cát góp vào bờ biển để đời sau có thể tìm lại cội nguồn. Được như bây giờ thì tiện lắm, tiến bộ lắm rồi!” - ông nói.
Suốt nửa thế kỷ làm công việc sưu tầm, hiện nay ông đã thu thập được rất nhiều ca dao, tục ngữ các bài hát xường, truyện thơ, cùng các nét đặc sắc về phong tục tập quán của người Mường. Tập bản thảo “Từ vựng ngữ nghĩa Mường - Việt 65.000 từ” cũng đã hoàn thành.
Ông nói: “Người Mường chưa có chữ viết, nên tất cả các văn hóa dân gian đều do truyền miệng. Khi sưu tầm và viết bản thảo, tôi mong muốn góp phần làm phong phú thêm văn hóa các dân tộc Việt Nam, cho con cháu người Mường sau này hiểu về dân tộc mình, hiểu những giá trị văn hóa phong tục đang ngày bị mất dần đi theo năm tháng và điều quan trọng hơn cả, đó là người Mường có thể đọc tác phẩm của dân tộc mình bằng tiếng mẹ đẻ và vốn văn hóa cổ của người Mường mãi không bị thất truyền”.
Bích Hường