Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế

Xem tin gốc 

Tổ quốc - 30 tháng trước 145 lượt xem

Viet Nam trong mat ban be quoc te

(Toquoc) – Bước vào năm 2010, Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế là “con hổ” tiềm năng của châu Á, nhưng phải giải quyết tốt các bài toán đối nội, đối ngoại.

Những ngày đầu năm 2010, trên website http://www.outsourceportfolio.com đăng tải báo cáo về Việt Nam của giới chuyên gia quốc tế, trong đó nhận định Việt Nam có tiềm năng trở thành điểm đến tiếp theo (chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ) đối với các công ty đa quốc gia muốn sử dụng nguồn lực bên ngoài. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc, và xu hướng này sẽ tiếp tục được duy trì thời gian tới. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã thực hiện thành công chính sách tạo thị trường xuất khẩu năng động.

Kinh tế tăng trưởng cao

Báo cáo cũng đưa ra những minh chứng cụ thể về sự phát triển năng động của ngành công nghệ thông tin tại Việt Nam. Đây là một trong những ngành công nghiệp tăng trưởng cao nhất của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2008, thu hút 332 công ty nước ngoài đầu tư với tổng số vốn là 2 tỷ USD.

Báo cáo đánh giá cao vai trò của Chính phủ Việt Nam trong việc thúc đẩy quá trình đầu tư cho ngành công nghiệp phần mềm và kỹ thuật số, bảo vệ bản quyền, cải thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao trình độ nguồn nhân lực. Báo cáo nhận xét: Điều khiến Việt Nam trở thành một điểm đến hấp dẫn vì là nước có mức độ rủi ro từ thấp đến trung bình, với một môi trường chính trị ổn định.

Trên lĩnh vực ngoại giao đa phương, Việt Nam đã tích cực tham gia trong các diễn đàn, tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)…. Năm nay, mốc lớn nhất đánh dấu bước trưởng thành mới của ngoại giao đa phương Việt Nam chắc chắn phải kể đến việc nước ta hoàn thành tốt nhiệm kỳ hai năm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (HĐBA LHQ) năm 2008-2009 và hai khóa chủ tịch luân phiên cơ quan này trong tháng 7/2008 và tháng 10/2009.

Hai năm qua, tình hình thế giới có nhiều biến động. Suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động tới nhiều Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ, trong khi những điểm nóng xung đột và bạo lực đã làm cho hoạt động của HĐBA hai năm qua trở nên dồn dập. Tuy chỉ giữ cương vị thành viên không thường trực, nhưng Việt Nam đã có những đóng góp nhất định vào công việc chung của HĐBA, cơ quan quan trọng nhất của LHQ.

Đặc biệt, Việt Nam đã khẳng định tiếng nói và khả năng lãnh đạo của mình trong tháng đảm nhiệm cương vị Chủ tịch luân phiên của HĐBA. Việt Nam đã chủ động tổ chức nhiều cuộc thảo luận về những vấn đề đang được cộng đồng quốc tế quan tâm, xử lý hiệu quả các công việc của Hội đồng, đóng góp xây dựng của Việt Nam vào giải quyết các vấn đề hòa bình và an ninh quốc tế, thông qua hoạt động của HĐBA.

Tiếp nối thành công của kỳ chủ tịch HĐBA LHQ tháng 7/2008, Việt Nam đã hoàn thành tốt trọng trách Chủ tịch HĐBA tháng 10/2009, để lại dấu ấn đậm nét, khẳng định bước trưởng thành mới của ngoại giao đa phương Việt Nam. Tháng 10/2009 là tháng làm việc dày đặc với 1 cuộc họp cấp Bộ trưởng Ngoại giao, 29 cuộc họp cấp Đại sứ và 40 cuộc họp cấp chuyên viên, trong đó có 5 cuộc họp khẩn cấp. Các nước thành viên LHQ trong và ngoài HĐBA ghi nhận những đóng góp của Việt Nam, đánh giá Việt Nam đã đảm nhiệm cương vị Chủ tịch lần thứ hai một cách xuất sắc; nhiều nước đặc biệt đánh giá cao sáng kiến tổ chức và kết quả cuộc thảo luận mở về “Phụ nữ, Hòa bình và An ninh”.

Việt Nam hoàn thành tốt 2 nhiệm kỳ Chủ tịch HĐBA LHQ

Ngoại giao của Việt Nam còn ghi được dấu ấn những ngày cuối năm với việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tham dự Hội nghị cấp cao LHQ về biến đổi khí hậu lần thứ 15 (COP-15) tại Copenhagen (Đan Mạch) từ ngày 15 đến ngày 19/12. Bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị đã được xếp trong số 10 bài đầu tiên được dư luận đánh giá cao.

Việt Nam và Biển Đông

Giới bình luận quốc tế dành không ít giấy mực đưa tin và bình luận về các sự kiện xảy ra ở Biển Đông và không bài nào không đề cập đến ứng xử của Việt Nam, đặc biệt liên quan đến quan hệ với Trung Quốc, Mỹ và ASEAN. Đó là vấn đề trọng yếu mà không thể không đề cập đến.

Báo chí Trung Quốc thể hiện hai khuynh hướng – phái thực lực chủ trương dùng vũ lực và phái hòa hoãn dùng ngoại giao để giải quyết tranh chấp Biển Đông. Phái thực lực tiếng nói đang lấn át dư luận ở Trung Quốc, nhưng những tiếng nói hòa hoãn cũng phản ánh lợi ích đại cục của Trung Quốc. Báo Quốc tế tiên khu đạo báo đưa lại nội dung cuộc họp báo tại Bắc Kinh của Đại sứ nước ta Nguyễn Văn Thơ nhân dịp kỷ niểm 60 năm ngày hai nước thiết lập quan hệ mgoại giao. Đại sứ Nguyễn Văn Thơ bày tỏ, năm nay VN sẽ thông qua các biện pháp như tăng cường giao lưu chính trị, giao lưu thanh niên, công tác tuyên truyền… để tăng cường lòng tin và quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt - Trung. Khi phóng viên của Quốc tế tiên khu đạo báo hỏi: “Ngài Đại sứ vừa nói, hai bên Việt Nam – Trung Quốc sẽ tôn trọng lợi ích của nhau về vấn đề Nam Hải (Biển Đông), nhưng hai nước vì vấn đề Nam Hải (Biển Đông) đã có nhiều lần sóng gió. Việt Nam đẩy mạnh khai thác các đảo ở Nam Hải (Biển Đông) và khai thác dầu khí ở vùng biển Nam Hải, điều này rõ ràng là đã xâm phạm lợi ích của Trung Quốc. Ngài Đại sứ nói không làm tổn hại đến lợi ích của các bên, xin hỏi Việt Nam có tuân thủ lời hứa và có các hành động thực chất không?” Câu hỏi vừa đặt ra, phóng viên ngồi trong phòng trở nên xôn xao, đợi Đại sứ trả lời. Phiên dịch vừa dịch xong, Đại sứ Nguyễn Văn Thơ nói ngay: “Về vấn đề Biển Đông, chúng tôi khẳng định, các hoạt động kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông nằm trong khu đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền đối với Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Các hoạt động kinh tế của Việt Nam, trong đó có khai thác dầu khí, đều được thực hiện trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Việt Nam chưa từng có bất cứ hoạt động nào xâm phạm lợi ích của Trung Quốc”. Đại sứ Nguyễn Văn Thơ nói tiếp, trong khi tìm kiếm giải pháp hòa bình lâu dài, các bên không được sử dụng các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết thỏa đáng các vấn đề phát sinh, điều này phù hợp với lợi ích của hai nước. Tốt nhất, Trung Quốc và các nước ASEAN cần xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông, như vậy sẽ thuận lợi hơn cho việc giải quyết vấn đề Biển Đông của hai bên. Tờ báo này bình luận, trả lời của Đại sứ Việt Nam rất “thẳng thắn và khí phách”.

Tờ báo cũng đưa lại ý kiến của Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu địa sử biên cương, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc Lý Quốc Cường, cho rằng: Một số nhà quan sát cho rằng, nếu chỉ có VN phản đối thì không đáng lo, điều đáng lo nhất là các nước Đông Nam Á liên kết lại để phản đối. Lý Quốc Cường nhận định: mặc dù hiện nay chưa tồn tại liên minh lực lượng các nước ASEAN đối phó lại Trung Quốc, nhưng Trung Quốc cũng cần nhận rõ rằng giữa các nước ASEAN mặc dù có những bất đồng, nhưng rất có thể họ sẽ tạo thành một chỉnh thể để thúc đẩy cái gọi là “giải quyết vấn đề Nam Hải”. Lý Quốc Cường kiến nghị, cần tìm kiếm và xây dựng một cơ chế khai thác du lịch, làm cho Tây Sa (Hoàng Sa) trở thành một khu vực an toàn thực sự. “Chúng ta cần nhìn thẳng vào thực tế tồn tại bất đồng với Việt Nam, cần không ngừng điều hòa, làm giảm bớt sự hiểu nhầm của các quốc gia xung quanh, loại bỏ các nhân tố bất ổn định. Nếu không, cho dù thực hiện khai thác tốt, nhưng lại vẫn sợ không có du khách vì lý do an toàn”.

Báo chí phương Tây cũng có những ý kiến nhằm khai thác các khía cạnh bất đồng Trung-Việt, những phức tạp quan hệ Mỹ-Trung, cũng như những phát triển mới quan hệ Mỹ-Việt liên quan đến Biển Đông. Nhưng cũng có những ý kiến phản ánh chiều hướng khách quan hòa bình hợp tác khu vực, lợi ích cơ bản của các bên liên quan, ghi nhận thái độ Việt Nam giữ vững nguyên tắc cơ bản bảo vệ lợi ích chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nhưng ứng xử bình tĩnh, đấu tranh khéo léo có lý có tình, phù hợp với truyền thống hòa hiếu của ngoại giao Đại Việt với Trung Quốc và chính sách đa dạng hóa, làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.

2010: Khó khăn và thách thức

Dự báo bức tranh kinh tế thế giới năm 2010 sẽ lạc quan hơn, nhưng hậu quả sâu sắc của khủng hoảng sẽ vẫn tồn tại trong vài năm tới với sự hiện hữu của những nguy cơ gây bất ổn định vĩ mô như lạm phát, thất nghiệp, thâm hụt ngân sách tăng cao, nợ công và nợ doanh nghiệp ở mức khó kiểm soát, sự biến động khó lường của giá dầu và các mặt hàng cơ bản...

Việt Nam 2010 với nhiều sự kiện ngoại giao quan trọng

Không nằm ngoài bối cảnh ấy, giới chuyên gia trong nước và quốc tế đều nhận định kinh tế Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh nhất khu vực trong năm 2010, ở mức trên 7% (so với 5,32% năm 2009). Tuy nhiên, các chuyên gia cũng cảnh báo nền kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng quá nóng, quá nhanh, dẫn tới nguy cơ lạm phát có thể quay trở lại trong năm 2010. Ngoài ra, các chuyên gia cũng chỉ ra những vấn đề xã hội “đau đầu”, nan giải với chính phủ Việt Nam như: nạn tham nhũng, quy hoạch giao thông đô thị, cải cách hành chính, vấn đề công bằng xã hội, nông thôn-thành thị…

Tìm ra mô hình kinh tế thích hợp hậu khủng hoảng là vấn đề được quan tâm nhất trong thời gian qua. Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng, Việt Nam cần ưu tiên xây dựng và phát triển nền kinh tế “xanh”, ưu tiên công nghệ mới, sử dụng hiệu quả năng lượng, thân thiện môi trường, giảm phụ thuộc vào thị trường xuất khẩu và chú trọng hơn đến thị trường nội địa, tăng cường vai trò điều tiết của nhà nước, nhất là trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng.

Một trong những thách thức lớn nhất là ta phải đối mặt với những vấn đề mới của quá trình phát triển như: chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, giải quyết hài hòa được mối quan hệ giữa chính sách hội nhập quốc tế sâu rộng với việc bảo đảm ổn định kinh tế-xã hội, đối phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Báo chí cũng Viết nhiều về việc Việt Nam là một trong những nước chịu tác động lớn nhất của hiện tượng nước biển dâng, một hậu quả không thể tránh khỏi của biến đổi khí hậu thế giới. Theo số liệu của LHQ, đến năm 2100, nước biển dâng cao sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của 10% dân số Việt Nam và đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất của Việt Nam - sẽ bị mất 38% diện tích canh tác.

2010 là năm quan trọng của Việt Nam trong vai trò Chủ tịch ASEAN. Đó là năm thử thách đồng thời tạo cơ hội để Việt Nam khẳng định vai trò, góp phần giải quyết các vấn đề liên quan của ASEAN. Trong năm 2010, theo các nhà quan sát, Việt Nam sẽ phải đối phó với nhiều thách thức, trong đó có vấn đề thuyết phục được toàn khối Đông Nam Á có được một lập trường chung trong hồ sơ tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc tại Biển Đông.

Năm Bạch Hổ dũng mãnh đang đến, dưới con mắt bạn bè quốc tế, người dân Việt Nam vốn cần cù, chịu thương chịu khó, thân thiện và nhanh nhạy, với sức mạnh và sự can trường, sẽ vượt qua khó khăn thách thức, phát huy nội lực, phát huy hợp tác quốc tế, để có thể trở thành “con hổ” của châu Á trong thập kỷ tới./.

Trần Hạnh Nhân

Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang