VOVNews phỏng vấn ông Đặng Dũng Chí, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu quyền con người.
PV: Thưa ông, dưới góc độ một nhà nghiên cứu về nhân quyền, ông đánh giá như thế nào về những nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong việc thúc đẩy quyền con người ở nước ta?
Ông Đặng Dũng Chí: Phải khẳng định, ngay từ lúc thành lập, Đảng ta đã theo đuổi mục tiêu quyền con người. Trước kia là giành lại quyền cho mỗi người dân được sống trong một đất nước độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, có vị thế bình đẳng với mọi quốc gia trên thế giới. Nhà nước Dân chủ Cộng hòa vừa ra đời đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trang bị một chân lý giản dị là: nước được độc lập mà người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng vô nghĩa. Nhận thức chính trị này là định hướng quan trọng đối với mọi hoạt động của Nhà nước ta cho đến tận ngày nay.
Sau khi trở thành thành viên Liên Hợp Quốc, Việt Nam sớm gia nhập các Công ước nhân quyền và đến nay đã trở thành thành viên của hầu hết các Công ước nhân quyền quan trọng. Những năm qua, Việt Nam đã thực hiện tốt những nghĩa vụ của quốc gia thành viên; tháng 9 vừa qua đã bảo vệ thành công Báo cáo kiểm điểm định kỳ tại Hội đồng nhân quyền của Liên Hợp Quốc.
Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn theo hướng bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người. Điểm dễ nhận thấy là các quyền con người ngày càng được mở rộng và nâng cao. Hiếm có luật pháp ở nước nào quy định về quyền tự do kinh doanh của mọi người dân, nhưng Hiến pháp năm 1992 đã dành hẳn một Điều (Điều 57) để quy định về quyền này....
Cùng với chương trình cải cách tư pháp, việc cải cách nền hành chính Nhà nước cũng đang được đẩy mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân. Cùng với đó, Nhà nước đã thông qua hàng loạt chương trình, mục tiêu quốc gia nhằm nâng cao đời sống cho người dân.
PV: Kinh tế thị trường và sự mở cửa của đất nước cũng có mặt trái là làm rộng thêm khoảng cách giàu-nghèo, nông thôn-thành thị... Vậy theo ông, làm thế nào để cân bằng được các yếu tố giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội, bảo đảm người dân được hưởng thụ đầy đủ các quyền cơ bản?
Ông Đặng Dũng Chí: Đây là quy luật tất yếu của sự phát triển. Để thu hẹp các khoảng cách này, Đảng và Nhà nước nước ta luôn coi trọng phát triển kinh tế. Bởi đây là cơ sở để chăm lo tốt hơn quyền có chất lượng sống cao hơn của tất cả mọi người. Cùng với các Chương trình 134, 135, Chính phủ vừa bổ sung bằng Chương trình hỗ trợ 61 huyện đặc biệt khó khăn. Điều này thể hiện nỗ lực của Nhà nước và trên thực tế đã tạo ra bước phát triển mới cho các vùng này.
Dưới góc nhìn nhân quyền, tôi cho rằng, Nhà nước cần phải nỗ lực, đầu tư nhiều hơn nữa mọi nguồn lực (cả các nguồn lực ngoài Nhà nước) để phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực còn khó khăn. Lợi ích đạt được là rất lớn và thấy rõ. Chẳng hạn, khi chúng ta mở đường, đem điện đến vùng sâu, vùng xa, người dân biết cách tận dụng các lợi ích này để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống; khi chúng ta mở trường học, xây bệnh viện thì người dân sẽ chăm lo nhiều hơn đến đời sống của mình...
Song, cùng với sự nỗ lực của Nhà nước, rất cần các cấp, các ngành và cả xã hội vào cuộc thì công cuộc thu hẹp khoảng cách giàu- nghèo mới thực sự có hiệu quả.
Luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo
PV: Việt Nam có khoảng 20 triệu người theo các tôn giáo khác nhau và 80% người dân có đời sống tín ngưỡng. Ông đánh giá như thế nào về các chính sách của Đảng, Nhà nước về tự do tôn giáo trong thời gian vừa?
Ông Đặng Dũng Chí: Chính sách của Đảng, Nhà nước ta về tự do tôn giáo khá đầy đủ và đang từng bước đi vào cuộc sống. Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân của tất cả các tôn giáo lớn và hàng chục hệ phái Tin lành. Chúng ta đều nhận thấy, chùa chiền, nhà thờ được sửa chữa hoặc xây mới ở nhiều nơi. Các trung tâm đào tạo tôn giáo cũng được mở ra ở các vùng, miền. Người tu hành, các chức sắc tôn giáo có thể tự do hành hương tới các thánh địa tôn giáo; tham gia hội nghị, hội thảo và các sinh hoạt khác một cách tự do.
Trên thực tế, sinh hoạt tôn giáo của người dân rất sôi động, diễn ra ở mọi địa phương, nhất là trong các mùa lễ hội.
Ở Việt Nam, không hiếm hình ảnh có nhiều tôn giáo tồn tại trong cùng một làng, bản. Để có được hình ảnh đó, chắc chắn Nhà nước Việt Nam đã phải làm rất nhiều việc, đặc biệt là luôn tôn trọng quyền theo và không theo tôn giáo của tất cả mọi người dân.
Một điều đáng lưu ý nữa là trong thời gian vừa qua, mặc dù tôn giáo phát triển rất mạnh, nhưng không xảy ra xung đột tôn giáo, xung đột xã hội như từng diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới. Điều này rất có ý nghĩa và nó liên quan đến chính sách tôn giáo của Nhà nước Việt Nam.
PV:
Lợi dụng các vấn đề tôn giáo, nhiều tổ chức nước ngoài vu cáo Việt Nam “có vấn đề về nhân quyền”. Theo ông, cần có những biện pháp gì đấu tranh với những luận điệu sai trái này?
Ông Đặng Dũng Chí: Vừa qua, ở một số nơi đã xảy ra vấn đề bất đồng chủ yếu liên quan đến đất đai... Đất đai luôn là vấn đề phức tạp, nhất là ở quốc gia đang phát triển, lại trải qua hàng chục năm chiến tranh và có nhiều biến động như Việt Nam. Vấn đề đất đai hiện nay không chỉ là vấn đề liên quan đến tôn giáo, mà liên quan đến nhiều chủ thể khác trong xã hội.
Đai đai ở Việt Nam theo quy định của pháp luật là thuộc sở hữu toàn dân. Vì thế, mọi vấn đề liên quan đến đất đai đều phải được giải quyết trên cơ sở pháp luật hiện hành. Nhu cầu có nơi sinh hoạt của một số tôn giáo đang được các cấp chính quyền xem xét, giải quyết. Việc giải quyết cũng cần có thời gian.
Đối với những thủ đoạn lợi dụng những việc tranh chấp đất đai để làm ầm lên rằng “Việt Nam có vấn đề về nhân quyền”, thì việc cần phải làm là tăng cường thông tin, trao đổi, để những ai thực sự quan tâm hiểu rõ vấn đề này.
Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền
PV: Tại các cuộc hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng công tác thông tin tuyên truyền về nhân quyền ở Việt Nam còn chưa được đẩy mạnh. Vậy để bạn bè quốc tế hiểu hơn nữa về những nỗ lực của Việt Nam, thì cần phải có những giải pháp gì trong công tác tuyên truyền về vấn đề này?
Ông Đặng Dũng Chí: Đúng là có hạn chế này. Nhưng theo tôi, còn một hạn chế khác là chúng ta còn thiếu những phân tích, làm rõ bản chất của mỗi sự kiện, vấn đề. Xã hội nào cũng có những vấn đề của riêng mình. Điều quan trọng là Nhà nước nhận rõ bản chất của vấn đề, có thái độ cầu thị và tìm ra cách xử lý thích hợp.
Quả là chúng ta rất bức xúc trước nhiều vấn đề, như: nạn tham nhũng, tệ quan liêu, cửa quyền... Nhưng chúng ta cũng nên nhìn vào những nỗ lực và quyết tâm của Nhà nước trong việc chống lại nó. Những vấn đề chúng ta đang phải đối mặt đều là những vấn đề của quá trình phát triển, nhất là đối với những nước ở xuất phát điểm thấp, lại trải qua nhiều biến động lớn như Việt Nam.
Những năm qua, Chính phủ đã quan tâm đến công tác thông tin đối ngoại để người Việt Nam ở nước ngoài và bạn bè quốc tế hiểu rõ những vấn đề đang diễn ra ở Việt Nam, trong đó có câu chuyện về nhân quyền. Chúng ta đã làm được rất nhiều việc. Chẳng hạn, VOV5 và VTV4 đã phủ sóng khắp toàn cầu, đưa đến cho kiều bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế nhiều thông tin cần thiết về những đổi thay đang diễn ra ở Việt Nam.
Bên cạnh các kênh đối thoại nhân quyền với một số nước, chúng ta cũng đang đẩy mạnh các hoạt động giao lưu văn hóa, khoa học kỹ thuật....
Nhưng tôi nghĩ, chúng ta cần phải làm nhiều hơn. Chẳng hạn, nêu bật những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong việc giữ vững được sự ổn định của đất nước trong bối cảnh khủng bố như thứ “virus” đang lan tràn ở khắp nơi như hiện nay. Nhà nước đang nỗ lực tạo lập một xã hội tốt đẹp, trong đó khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân hoạt động theo hướng nhân đạo, hướng thiện. Chẳng hạn trong việc chung tay chia sẻ với đồng bào vùng lũ, bên cạnh nỗ lực của Chính phủ, các cấp chính quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam còn huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị-một việc mà không phải nước nào cũng làm được... Nếu phân tích được đầy đủ, chắc chắn có tác dụng lớn không chỉ đối ngoại mà cả đối nội.
Để làm tốt hơn công tác thông tin đối ngoại, cần phải có nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt quan tâm đến vai trò của các phương tiện thông tin hiện đại. Các kênh thông tin này giúp những người có thiện chí (tôi muốn nhấn mạnh từ này, vì đối với những người cố tình không hiểu thì thật vô nghĩa) hiểu rõ bản chất cái gọi là “vấn đề nhân quyền ở Việt Nam”. Chúng ta cũng có thể xây dựng một trang Web về quyền con người, trong đó nêu bật những chính sách, pháp luật và thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam...
Tôi tin rằng, nếu làm được như vậy, chắn chắn chúng ta sẽ có nhiều gợi ý và đóng góp quý báu để thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ quan trọng này.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông./.
Minh Hòa – Thanh Hà (thực hiện)



