Việc xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân

Chinhphu.vn - 

(Chinhphu.vn) - Ông Nguyễn Công Bằng cư trú tại Hà Nội từ năm 2000. Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà do ông đứng tên nên khi ký kết hợp đồng bán nhà, công chứng yêu cầu ông Bằng phải đến UBND phường đề nghị xác nhận tình trạng hôn nhân.

Tuy nhiên ông Bằng được cán bộ phường trả lời đã có chỉ thị dừng việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân để sử dụng vào mục đích khác. Vì vướng mắc đó, đến nay ông Bằng vẫn chưa bán được nhà. Ông Bằng đề nghị được gỡ vướng trong trường hợp này?

Về trường hợp của ông Bằng, Luật sư Lê Văn Đài, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội cho biết, đúng là trong những tháng cuối năm 2010, một số UBND phường, xã, thị trấn trên địa bàn TP. Hà Nội không xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân để sử dụng vào mục đích khác ngoài việc đăng ký kết hôn.

Theo Công văn số 254/HCTP-BTP ngày 20/1/2011 của Bộ Tư pháp, sở dĩ có tình trạng trên là do một số UBND phường, xã, thị trấn hiểu không đúng nội dung Công văn số 4126/BTP-HCTP ngày 13/8/2010 của Bộ Tư pháp gửi Sở Tư pháp TP. Hà Nội về việc sử dụng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong hoạt động công chứng.

Tại Điều 65, khoản 1 Điều 66 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định: “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định tại Chương này được sử dụng vào việc đăng ký kết hôn hoặc vào các mục đích khác"; "Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó”.

Tại điểm d, khoản 2, Mục II, Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 2/6/2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP hướng dẫn: “Đối với những người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhân không rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầu đương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về việc cam đoan”. Mặc dù hướng dẫn này thuộc Mục II “Đăng ký kết hôn”, nhưng theo quy định tại Điều 65, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP nêu trên thì công dân cũng được sử dụng vào mục đích khác, tùy thuộc vào cơ quan, tổ chức có yêu cầu với công dân.

Cũng tại Công văn số 254/HCTP-BTP trên, Bộ Tư pháp yêu cầu Sở Tư pháp thành phố Hà Nội chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo yêu cầu của công dân không chỉ để phục vụ cho việc đăng ký kết hôn mà còn để sử dụng cho các mục đích khác theo quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP và hướng dẫn của Thông tư số 01/2008/TT-BTP.

Do vậy, vào thời điểm này, ông Bằng có thể đến UBND phường nơi ông cư trú yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân để sử dụng vào việc ký kết hợp đồng, giao dịch theo yêu cầu của tổ chức hành nghề công chứng.

Tuy nhiên, do UBND phường nơi ông cư trú hiện nay không rõ về tình trạng hôn nhân của ông ở nơi cư trú trước đây, vì vậy ông cần phải viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thời gian trước khi về cư trú tại địa phương và chịu trách nhiệm về sự cam đoan đó.

Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Chủ tịch UBND phường sẽ ký và cấp cho ông Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân. Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn xác minh là 5 ngày. Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.

Luật sư Lê Văn Đài

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.

Tin mới