Chùa Linh Sơn (Thoại Sơn, An Giang) - nơi lưu giữ 2 hiện vật văn hóa Óc Eo được xếp hạng di tích quốc gia: Phật 4 tay và 2 bia đá cổ.
(LĐ) -
57 tham luận của 57 tác giả là nhà khoa học, nhà nghiên cứu chuyên nghiệp về văn hóa Óc Eo không chỉ mang đến những cứ liệu lịch sử quan trọng khẳng định di tích Óc Eo là di sản văn hóa cổ có giá trị toàn cầu, mà còn toát lên thông điệp cần có chính sách đầu tư thỏa đáng đưa văn hóa Óc Eo trở thành di sản nhân loại.
Vốn quý của nhân loại
Tại hội thảo, các đại biểu thống nhất cho rằng, từ lần đầu tiên khai quật của nhà khảo cứu Louis Mallert (Trường Viễn đông Bác cổ) tại Óc Eo (Thoại Sơn, An Giang), 65 năm qua, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phát hiện thêm hơn 100 địa điểm di tích của nền văn hóa Óc Eo tại hầu hết các tỉnh ĐBSCL và một phần miền Đông Nam Bộ, với hơn 50.000 hiện vật bằng nhiều loại chất liệu (đất nung, đá thủy tinh, mã não, kim loại...).
Kết quả phân tích cho thấy, đây là nền văn hóa bản địa, gắn liền với sự tồn tại của Vương quốc Phù Nam có ảnh hưởng bao trùm từ Nam Bộ của VN qua Campuchia, Thái Lan và một phần Malaysia ngày nay. Óc Eo từng là thị cảng phồn vinh, một trung tâm kinh tế - văn hóa sống động, có quan hệ giao lưu văn hóa, giao thương với khu vực Đông Nam Á, Ấn Độ, Trung Quốc, Trung Đông, Địa Trung Hải...
Đô thị Óc Eo là di tích tiêu biểu cho nền văn minh của quốc gia cổ hình thành sớm nhất Đông Nam Á, có quá trình tồn tại và phát triển lâu nhất, mạnh nhất, ảnh hưởng lớn nhất khu vực nửa đầu thiên nhiên kỷ I sau công nguyên. Vì thế, theo các đại biểu, di tích Óc Eo và nội hàm văn hóa của nó là di sản văn hóa cổ có giá trị nhiều mặt, xứng đáng trở thành di sản văn hóa nhân loại.
Làm gì để quản lý, bảo tồn, phát huy?
Dù thời gian qua công tác khai quật, nghiên cứu, hội thảo liên quan đến văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam do các cơ quan nghiên cứu trong nước và quốc tế tổ chức khá nhiều, nhưng trên thực tế, công tác quản lý, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích văn hóa Óc Eo tại các địa phương có dấu hiệu thụt lùi.
Bên cạnh việc thiếu kỹ thuật bảo vệ các hiện vật ngoài trời, công tác bảo quản còn đơn điệu, thiếu các công trình phụ trợ, rồi nạn chảy máu cổ vật ngày càng trầm trọng. Mặt khác, giữa các địa phương chưa có sự kết nối trong bảo tồn và hầu hết các di tích hiện có chỉ mới miêu tả được yếu tố ngoại sinh “thượng tầng kiến trúc” (di tích kiến trúc tôn giáo-tín ngưỡng) mà gần như chưa có yếu tố nội sinh “hạ tầng cơ sở” (như các di tích cư trú).
Nguyên nhân cơ bản là do nhận thức của các cấp chính quyền chưa đồng nhất. Sẽ rất khó thuyết phục UNESCO công nhận văn hóa Óc Eo là di sản văn hóa nhân loại nếu ngay từ bây giờ không tạo ra giải pháp nền đồng bộ: Tiến hành khảo sát lại toàn vùng di chỉ, tiến tới khai quật và đặc biệt là có cơ chế “thoáng” trong công tác quản lý cổ vật: Cho thành lập Hội Cổ vật Óc Eo; cho phép, công nhận các trung tâm, đại lý mua bán - trao đổi - đấu giá cổ vật; xây dựng danh mục, in ấn các bộ sưu tập làm tiêu chí giám định, nghiên cứu, quản lý; chọn lựa khu vực tiêu biểu nhất đề xuất xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc biệt, làm nền tảng trình Thủ tướng cho phép xây dựng hồ sơ là di sản văn hóa nhân loại.
Lục Tùng