“Hiền tài là nguyên khí quốc gia” - Lời bia Văn Miếu là một tuyên ngôn văn hiến Việt Nam. Đó là một tổng kết từ lịch sử dựng nước và giữ nước của một đất nước nhỏ, nằm giữa hai nền văn minh lớn Trung Hoa và Ấn Độ mà ứng xử thông minh, biết học, biết tiếp biến văn hóa tạo nên bản sắc “phi Hoa phi Ấn”, biết học người để bồi đắp nên mình, để là mình bền chắc hơn, vượt qua nguy cơ đồng hóa của ngàn năm Bắc thuộc, để tồn tại như một quốc gia “vốn xưng nền văn hiến đã lâu” và thực sự độc lập tự chủ sau những tích tụ văn hóa và tự cường cùng những võ công hiển hách.
Việc dựng bia và lời văn bia Văn Miếu vừa thể hiện khát vọng học tập của cả dân tộc, vừa thể hiện đức lớn trọng dụng người có thực học, nhân tài và cao hơn là hiền tài. Là một tổng kết-tuyên ngôn hệ thống học và hành, tài năng và dùng tài năng, bia Văn Miếu cùng với thực tế trọng sự học, khuyến học, khuyến tài trong đời sống muôn đời của mỗi gia đình, làng xóm đã làm sáng rõ một nhu cầu sống, một văn minh tinh thần của con người-đó là Đạo học Việt Nam. Đạo học ấy hướng mọi người đến sự học hành, hướng xã hội cùng mọi vương triều, mọi nhà nước trọng dụng người tài, hướng mọi việc học tập, mọi người có tài vào “dựng xây nghiệp lớn, diệt trừ tàn bạo, cứu dân lầm than” (Văn bia Văn Miếu). 82 tấm bia Văn Miếu gắn kết với những chiếu cầu hiền, quỹ khuyến học, những thửa ruộng học điền (ruộng để cấy trồng chu cấp cho những người học lên cao ở các làng xã xưa). 82 tấm bia Văn Miếu gắn kết với hàng ngàn văn miếu, văn chỉ, đình, đền, chùa chiền khắp các thôn làng Việt Nam tôn thờ những vị thành hoàng làng có công với làng, với nước càng cho thấy rõ cái đích đến của việc học, của người tài. Học đi đôi với hành, học không phải để lo toan vinh thân phì gia mà để đóng góp nhiều hơn cho việc chung, việc nước.
“Học phải đi đôi với hành”, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” - Đó là lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về việc học gắn với thực tế, gắn với vận mệnh quốc gia. Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Người đã phát động phong trào bình dân học vụ, coi việc diệt “giặc dốt” phải tiến hành cấp thiết, đồng thời với “giặc ngoại xâm”, “giặc đói”.
Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, cả trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước, sự nghiệp giáo dục toàn dân được tiến hành với những nỗ lực cao nhất, tạo nên một lực lượng cách mạng, một quân đội và các lực lượng vũ trang cách mạng có tri thức ngày càng đông đảo, đóng vai trò quyết định đến thắng lợi của công cuộc giải phóng dân tộc. Đội ngũ cán bộ-trí thức được học tập, rèn luyện trong kháng chiến cũng chính là đội ngũ nòng cốt của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc những năm qua.
Không ngẫu nhiên Văn Miếu-Quốc Tử Giám nhiều năm lại đây ngày nào cũng tấp nập người đến thăm. Với khách nước ngoài là sự tiếp nối, mở rộng sự phát hiện chiều sâu văn hiến Việt Nam. Với các tầng lớp nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ trẻ, sự thăm thú đông đảo mà thành kính thể hiện nhu cầu học tập lớn lao. Nhu cầu ấy gắn liền với nhu cầu nhân lực của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chưa bao giờ hệ thống giáo dục của Việt Nam, từ phổ thông đến cao đẳng, dạy nghề và đại học lại phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ số lượng học sinh, sinh viên Việt Nam đi du học nước ngoài lại nhiều như hiện nay. Với sự nghiệp đổi mới, “quốc sách giáo dục” những nghị quyết, biện pháp thu hút, trọng dụng tài năng của Đảng, Nhà nước và guồng máy kinh tế xã hội của đất nước đã đưa lại hiệu quả tích cực, tạo nên nguồn lực mạnh mẽ tiếp sức cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Cũng như mọi việc lớn của đất nước, giáo dục luôn đứng trước những nhu cầu, đòi hỏi mới nên luôn phải đổi mới, song để đổi mới giáo dục đúng hướng, phải bám chắc, vun trồng cho gốc rễ đạo học và hành của dân tộc. Đã quá lạc hậu lối học tầm chương trích cú, cũng đã quá lạc hậu lối học chay, đọc và chép, lý thuyết suông không gắn với thực hành, thực nghiệm trong nhà trường, trong thực tế cuộc sống. Cũng là phi thực tế, mất phương hướng nếu học nhiều mà sa vào ngộ chữ, biết nhiều, biết lắm mà bị ngợp trước những điều mới lạ, hiện đại, tiên tiến của thế giới, mà ngoảnh mặt với điều kiện hoàn cảnh của quê hương đất nước. Ngược lại, tự bằng lòng với chương trình đã có, với thành tích, số lượng ra trường, số lượng trường lớp mỗi năm mỗi tăng là chúng ta đã tự níu kéo chân mình trong sự trì trệ, lạc hậu.
Trong nhịp điệu ngày càng tăng tiến của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hầu như ở đâu, lúc nào cũng thấy thiếu lao động qua đào tạo, nhân lực kỹ thuật cùng những tài năng quản lý, sáng tạo khoa học, những chuyên gia. Đó là sức ép phát triển với hệ thống giáo dục, với thái độ và phương pháp, chế độ tuyển dụng, trọng dụng nhân sự của mọi cơ quan, đoàn thể, công ty, xí nghiệp. Thật mừng là thực tế đã mở ra những ứng xử mới, cung cách mới để các trường sở từng bước nâng lên các chuẩn mực mới, để xã hội biết “chiêu hiền đãi sĩ”. Cuộc sống đòi hỏi, hiền tài đã và đang xuất hiện ngày mỗi nhiều lên.
MẠNH HÙNG