“Ưu” và “nhược” trong chỉ đạo, điều hành Tài chính

eFinance - 10/01/2011 09:31

“Uu” va “nhuoc” trong chi dao, dieu hanh Tai chinh

Đánh giá chung về công tác chỉ đạo, điều hành của cơ quan Bộ Tài chính, tại Hội nghị Đại biểu cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Bộ Tài chính năm 2010, Thứ trưởng thường trực Nguyễn Công Nghiệp đã thẳng thắn chỉ ra những kết quả đạt được cũng như 6 tồn tại cần sớm giải quyết.

Trọng tâm – Toàn diện - Quyết liệt - Đồng bộ

Giai đoạn 2006 - 2010, việc triển khai thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách trong bối cảnh nền kinh tế gặp những khó khăn, thách thức lớn do những biến động khó lường của nền kinh tế thế giới. Mặc dù vậy, Bộ Tài chính đã bám sát sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đưa ra các giải pháp chỉ đạo tập trung, có trọng điểm toàn diện các vấn đề về tài chính - NSNN nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển các lĩnh vực, giải quyết các vấn đề xã hội để thực hiện nhiệm vụ kinh tế, xã hội. Từ đó, góp phần ổn định được kinh tế vĩ mô, kiềm chế được lạm phát, đồng thời ngăn chặn thành công đà suy giảm, phục hồi tăng trưởng kinh tế.

Công tác chỉ đạo, điều hành được thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương đã đảm bảo tính hiệu quả, nhịp nhàng trong việc thực hiện các giải pháp được đề ra trong Nghị quyết của Chính phủ. Từ đó, bảo đảm sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, tăng nguồn thu ngân sách Nhà nước, cơ cấu thu được cải thiện theo hướng tích cực, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng từ mức 52% năm 2006 lên 62,5% năm 2010. Tỷ trọng các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí trong tổng thu NSNN tăng lên mức xấp xỉ 94% vào năm 2010. Số thu từ các sắc thuế quan trọng, có tính ổn định như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân có mức tăng nhanh và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tổng thu NSNN. Nguồn thu NSNN chủ động và ổn định, đảm bảo nguồn cho chi đầu tư phát triển, an ninh quốc phòng và các chính sách an sinh xã hội.

Đặc biệt, đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Tài chính với Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương trong việc tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ tài chính, ngân sách. Từ đó, tạo điều kiện cho các đơn vị trong ngành Tài chính từ Trung ương đến địa phương hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao.

Ngoài ra, công tác thông tin, tuyên truyền được chú trọng, đã kịp thời cung cấp thông tin về các chủ trương, chính sách, pháp luật về tài chính, ngân sách, các giải pháp điều hành kinh tế - xã hội của Chính phủ. Qua đó, tạo sự đồng thuận cao giữa các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân trong cả nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu kinh tế - xã hội.

Toàn cảnh Hội nghị. Ảnh: D.T

Vẫn còn nhiều tồn tại

Phấn khởi trước những thành quả đã đạt được song lãnh đạo Bộ Tài chính cũng đã thẳng thắn chỉ ra những vấn đề còn tồn tại cần được quan tâm chỉ đạo, tập trung giải quyết.

Một là, năng lực phân tích dự báo tình hình kinh tế - xã hội, các yếu tố tác động lớn đến tình hình kinh tế - xã hội vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang có bước phát triển nhanh và có nhiều diễn biến phức tạp, yêu cầu đổi mới công tác quản lý điều hành kinh tế - tài chính ngày càng cấp thiết, quá trình hội nhập sâu rộng khiến nền kinh tế ngày càng chịu tác động trực tiếp của những biến động của kinh tế khu vực và thế giới.

Hai là, qui mô thu ngân sách ở nhiều địa phương tuy đã được tăng lên đáng kể, nhưng ở một số địa phương vùng khó khăn vẫn chưa được cải thiện nhiều. Việc quản lý kê khai thuế mặc dù đã được chú trọng, nhưng khâu giám sát chất lượng kê khai còn hạn chế, vẫn còn những trường hợp kê khai không đúng, không đủ nghĩa vụ thuế phải nộp, tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế... vẫn chưa được đẩy lùi; công tác in ấn, quản lý và sử dụng hóa đơn vẫn còn nhiều vấn đề bất cập.

Ba là, tình trạng Bộ, ngành, địa phương bố trí vốn đầu tư dàn trải, phân tán chưa được khắc phục và xử lý triệt để. Tình trạng xin ứng vốn của các Bộ, địa phương rất lớn, tạo áp lực lên việc cân đối chi ngân sách Nhà nước. Một số Bộ, địa phương chưa thực hiện nghiêm túc các kiến nghị của Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước đối với công tác quản lý tài chính ngân sách. Việc điều hành chính sách tiền tệ, giá cả tuy đã đạt được một số kết quả quan trọng và cơ bản đã được vận hành theo cơ chế thị trường, song cũng còn có hạn chế, chỉ số giá chưa đạt mục tiêu đặt ra. Công tác kiểm soát, bình ổn giá còn gặp khó khăn do vướng mắc về cơ chế, chính sách trong việc đăng ký giá, chế tài xử lý đối với những doanh nghiệp vi phạm...

Bốn là, việc phân cấp trong quản lý tài chính doanh nghiệp là cần thiết song cần phải phù hợp với trình độ, năng lực quản lý và đi đôi với quy định rõ trách nhiệm trong quản lý. Đại diện chủ sở hữu cần phải xác định rõ hơn trong đó có vai trò của HĐQT, Chủ tịch HĐQT (nay là Hội đồng thành viên), Bộ quản lý ngành, Bộ tổng hợp trong việc phê duyệt chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, thẩm định quyết định đầu tư, vay nợ, sản xuất kinh doanh cũng như việc kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước đối với tập đoàn, tổng công ty cũng còn trùng lắp; quản trị, điều hành của nhiều tập đoàn, tổng công ty còn có sự hạn chế; đầu tư của doanh nghiệp vẫn còn dàn trải, chưa tập trung vào ngành nghề kinh doanh chính hoặc chủ yếu; hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại nhiều tập đoàn, tổng công ty chưa cao.

Năm là, số lượng các đề án trình Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ và các đề án thuộc thẩm quyền Bộ ban hành nhưng chưa hoàn thành còn khá nhiều. Một số cơ chế, chính sách còn vướng mắc, thiếu chế tài xử lý các hành vi vi phạm nhưng chậm được sửa đổi, hoàn thiện dẫn đến làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý. Tình trạng công việc tồn đọng, thực hiện chậm so với thời hạn được giao, thậm chí bỏ sót công việc còn xảy ra ở một số đơn vị thuộc Bộ, gây ảnh hưởng không tốt tới công tác chỉ đạo, điều hành của Bộ, của Chính phủ.

Sáu là, cơ chế phân cấp về công việc, về quản lý cán bộ chưa gắn liền với việc kiểm tra việc thi hành ở các đơn vị nên kết quả chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Lãnh đạo một số đơn vị chưa chủ động trong xử lý công việc, dẫn đến khối lượng công việc sự vụ dồn lên Lãnh đạo Bộ ngày càng nhiều. Còn tồn tại trường hợp thủ trưởng đơn vị chưa thật nghiêm túc trong việc chấp hành các quy định về chế độ thông tin, báo cáo, nhất là các báo cáo phục vụ cho công tác chỉ đạo điều hành của Lãnh đạo Bộ.

Ký giao ước thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2011. Ảnh: D.T

Tính đến 31/12/2010, biên chế của Bộ Tài chính là 75.848 biên chế (Biên chế hành chính: 73.100; biên chế sự nghiệp: 2.748). Trong đó, khối cơ quan Bộ là 1.201, Tổng cục Thuế: 42.970, Tổng cục Hải quan: 10.714, KBNN: 15.376, UBCKNN: 448, Tổng cục DTNN: 2.740.

Giải pháp trọng tâm năm 2011

Để hoàn thành tốt những nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2011, Bộ Tài chính đã chủ động đề ra khá nhiều giải pháp.

Đáng lưu ý là sẽ vận dụng hợp lý, kết hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành, quản lý vĩ mô nền kinh tế.

Theo đó, thực hiện chính sách tài khóa thận trọng, kiểm soát chặt chẽ thu, chi ngân sách nhà nước. Trong quá trình điều hành ngân sách nhà nước phấn đấu tăng thu để giảm bội chi ngân sách nhà nước năm 2011. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác để góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.

Thực hiện rà soát, bãi bỏ các khoản thu phí, lệ phí bất hợp lý, trái pháp luật. Sử dụng linh hoạt các công cụ phí, thuế, Quỹ bình ổn giá để bình ổn giá xăng dầu và một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu.

Sử dụng linh hoạt chính sách lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở để thu hút và điều hòa lượng tiền trong lưu thông, trong đó chú trọng tới tính chu kỳ và mùa vụ của lạm phát. Ngoài ra, các chính sách về bình ổn giá, nhất là những mặt hàng có tính độc quyền cũng cần chú trọng. Về dài hạn, chính sách tài khóa cần tập trung vào hiệu quả đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí để giảm áp lực lạm phát.

Giải pháp đáng lưu ý thứ hai là sử dụng linh hoạt, đồng bộ các biện pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, ổn định cân đối vĩ mô nền kinh tế.

Khẩn trương nghiên cứu để hình thành quỹ xúc tiến nhập khẩu công nghệ nguồn trên cơ sở quỹ xúc tiến xuất khẩu, trong đó tính toán tỷ lệ đóng góp hợp lý giữa nhà nước và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế để hình thành quỹ. Mục tiêu là hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị từ các nước công nghiệp phát triển; hạn chế nhập khẩu công nghệ, thiết bị cũ, lạc hậu, từ đó góp phần tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước. Chính sách tỷ giá cần thận trọng giữa mục tiêu khuyến khích xuất khẩu với hạn chế nhập siêu, cũng như kiềm chế lạm phát và ổn định vĩ mô. Do đó, cần điều chỉnh chính sách tỷ giá theo hướng ổn định để tạo môi trường vĩ mô lành mạnh cho các doanh nghiệp phát triển. Thực hiện quản lý chặt chẽ thị trường vàng và thị trường ngoại tệ, tránh tạo ra hiện tượng đầu cơ gây bất ổn cho nền kinh tế.

Tăng cường công tác giám sát, quản lý rủi ro, bảo đảm an toàn về nợ và an ninh tài chính quốc gia. Thực hiện giám sát chung các chỉ số, số liệu về nợ chính phủ và nợ nước ngoài của quốc gia trong khuôn khổ chỉ tiêu an toàn nợ. Thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu, xử lý, cung cấp thông tin về tình hình nợ; dự báo, cảnh báo mức độ rủi ro đối với danh mục nợ. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, giám sát, dự báo thị trường và xử lý rủi ro đối với các khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh.

Phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương trong việc đánh giá tình hình thực hiện, hiệu quả sử dụng vốn vay công. Chủ động có biện pháp quyết liệt trong triển khai thực hiện các chương trình, dự án để tháo gỡ vướng mắc, thúc đẩy giải ngân. Đồng thời, khẩn trương tiến hành xác định nhu cầu sử dụng vốn vay theo từng chương trình, dự án trong giai đoạn 5 năm - 10 năm tới để tổng hợp vào Chiến lược nợ công giai đoạn 2011-2020.

Giải pháp đáng lưu ý thứ ba là tiếp tục phát triển đồng bộ các thị trường, đẩy mạnh việc thực hiện quản lý giá theo cơ chế thị trường.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển đồng bộ các thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường khoa học công nghệ, thị trường lao động, thị trường bất động sản, trên nguyên tắc tôn trọng các quy luật thị trường, hạn chế can thiệp hành chính, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, minh bạch, ổn định và phù hợp với các thông lệ quốc tế.

Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, giám sát theo chức năng đối với các thị trường tài chính, chứng khoản, bảo hiểm... để có biện pháp điều chỉnh, xử lý kịp thời, đảm bảo cho các thị trường này hoạt động lành mạnh, ổn định. Tăng cường quản lý, giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư, các công ty bảo hiểm... đảm bảo việc tuân thủ các quy định về quản lý rủi ro và an toàn tài chính; phát hiện, ngăn ngừa và kịp thời xứ lý rủi ro.

Tiếp tục thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Chủ động thực hiện lộ trình điều chỉnh giá theo cơ chế giá thị trường vào thời điểm thích hợp trong năm đối với giá cả một số hàng hóa, dịch vụ Nhà nước còn định giá; Tăng cường quản lý giá thông qua các biện pháp: kiểm soát các yếu tố hình thành giá, đăng ký giá, kê khai giá; Kiên quyết ngừng việc đăng ký giá có mức tăng giá không hợp lý. Kiểm soát đối với một số hàng hóa, dịch vụ độc quyền, ngăn chặn và kiên quyết xử lý hành vi liên kết và lạm dụng vị thế thị trường để tăng giá bất hợp lý, nhất là các nguyên liệu đầu vào quan trọng của sản xuất và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu.

(Duy Thông)

Tin mới