Ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long

Nhân dân - 

Ung dung khoa hoc - cong nghe vao san xuat nong nghiep o dong bang song Cuu Long

ND - Từ năm 2005 đến nay, các tỉnh, thành phố đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thực hiện được gần 800 đề tài, dự án phục vụ phát triển nông nghiệp. Trong đó có gần 60 dự án được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt, chuyển giao và ứng dụng vào sản xuất đã nâng cao hiệu quả kinh tế, thu nhập cho nông dân.

Tuy nhiên, trước nhu cầu thực tế, khoa học - công nghệ vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển trong vùng.

Hiệu quả ứng dụng khoa học - công nghệ

ĐBSCL là vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, không chỉ có thế mạnh về lúa gạo, mà còn là vựa trái cây, thủy sản lớn nhất của cả nước. Những năm gần đây, nhờ ứng dụng hiệu quả khoa học và công nghệ (KH-CN) vào sản xuất nông nghiệp, vùng này có bước phát triển vượt bậc so với các vùng, miền khác trong cả nước. Thành công nổi bật của ĐBSCL là tạo được giống lúa cực sớm (các giống OMCS) với thời gian sinh trưởng ngắn, tránh được lũ, bảo toàn đồng lúa không bị thất thoát. Việc tăng nhanh diện tích sản xuất lúa đông xuân, hè thu bằng giống lúa cực sớm là yếu tố quan trọng để tăng năng suất, sản lượng lúa toàn vùng. Trước đây, hai triệu ha đất canh tác một vụ, năng suất hai tấn/ha, cả ĐBSCL chỉ đạt khoảng bốn triệu tấn lúa, đến năm 2009 đạt hơn 20,63 triệu tấn lúa hàng hóa. Giống lúa cực sớm được đánh giá là thành công nhất của Viện lúa ĐBSCL.

Không những tăng nhanh về sản lượng, mà chất lượng lúa gạo ở vùng này không ngừng tăng. Để có được hạt gạo chất lượng, phải nói đến công nghệ hạt giống. ĐBSCL đã có những bước tiến đáng kể trên lĩnh vực này. Cách đây năm năm, hạt giống tốt (giống xác nhận) chỉ có 20%, đến nay hơn 40% diện tích sử dụng giống xác nhận. Năng suất lúa bình quân hiện nay ở ĐBSCL khoảng 5,38 tấn/ha, đứng đầu khu vực ASEAN. Các loại lúa đặc sản có chất lượng cao như IR64, OM 1490, VN 95-20, MTC 250, ST, lúa nàng thơm Chợ Đào, Jasmine... phục vụ xuất khẩu ngày càng mở rộng, chiếm tỷ trọng lớn về diện tích, sản lượng, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn An Giang cho biết, nhờ chuyển giao, ứng dụng hiệu quả chương trình ba giảm, ba tăng trong sản suất lúa đã giúp tỉnh tăng nhanh diện tích. Với hơn 90% số nông dân thực hiện với 87% diện tích trồng lúa năm 2008, sản lượng đạt 3,5 triệu tấn, tăng 340 nghìn tấn so năm 2007, cao nhất từ trước đến nay, và là tỉnh có sản lượng lúa cao nhất nước. Hiện nay, nông dân các huyện Phú Tân, Chợ Mới, Thoại Sơn, Châu Phú... đang vào cao điểm thu hoạch lúa vụ ba (thu đông). Năm nay, thời tiết thuận lợi, phần lớn nông dân sử dụng giống lúa OMCS 95, OMCS 97, OMCS 2000... cho nên 92 nghìn ha lúa vụ ba đạt năng suất bình quân từ 5 đến 5,4 tấn, có nơi đạt hơn 6 tấn/ha. Hiện giá lúa đang tăng cao, thương lái mua lúa tươi tại ruộng từ 5.500 đến 6.000 đồng/kg. Nhờ trúng mùa, trúng giá lúa vụ ba, nông dân ở An Giang nói riêng, ĐBSCL nói chung rất phấn khởi. Ước tính, sau khi trừ chi phí, nông dân trồng lúa còn lời 20 đến 25 triệu đồng/ha.

Nuôi trồng, chế biến thủy sản cũng là thế mạnh của ĐBSCL. Vùng nước lợ thuộc các huyện Long Phú, Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên (Sóc Trăng) đã khai hoang và chuyển 40 nghìn ha diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm sú. Ở đây có nhiều mô hình nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp, tôm lúa, điển hình là mô hình nuôi tôm theo công nghệ vi sinh của Công ty cổ phần nuôi trồng, chế biến thủy sản Mỏ Ó - Long Phú mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tổng Giám đốc Công ty Lưu Thống Nhất cho biết, sau nhiều năm nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm nghề nuôi tôm sú ở nhiều địa phương trong nước, ông được các chuyên gia hàng đầu về sinh học của Việt Nam và nước ngoài giúp đỡ. Năm 2005, mùa tôm sú đầu tiên nuôi theo công nghệ vi sinh VITEDI, thành công với năng suất 15 tấn/ha. Có thể coi đây là một thành tựu nổi bật về nuôi tôm đạt năng suất cao của cả nước. Trang trại 200 ha của anh Quách Hoàng Phong tại xã Vĩnh Phước, huyện Vĩnh Châu nuôi tôm sú công nghiệp theo tiêu chuẩn AB, đạt năng suất từ 8 đến 10 tấn/ha. Từ miền bắc, miền trung, các tỉnh ven biển ĐBSCL, rất nhiều nhà khoa học và những nông dân về đây tìm hiểu, học tập kinh nghiệm. Theo nhận xét của nông dân, sử dụng chế phẩm vi sinh trong nuôi tôm có ưu điểm là tạo được môi trường nước sạch, bổ sung men tiêu hóa và chất vi lượng làm tăng khả năng hấp thụ thức ăn của tôm, hạn chế dịch bệnh, tôm phát triển nhanh, năng suất cao, chi phí thấp. Từ đó, phong trào lan rộng, đến nay thu hút hàng chục nghìn hộ nuôi tôm áp dụng công nghệ vi sinh cho thu nhập cao.

Cùng với cây lúa, con tôm, ĐBSCL còn phát triển mạnh cây ăn quả, thế mạnh tuyệt đối của vùng. Những năm qua, cuộc "cách mạng" giống cây ăn quả ở ĐBSCL phát triển rất mạnh. Tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, Viện trưởng Nghiên cứu cây ăn quả miền nam đánh giá: "Địa phương nào cũng có những loại cây đặc sản có ưu thế vượt trội về chất lượng. Muốn có giống tốt phải tổ chức quản lý và nhân cây giống. Thực tế đã đem lại kết quả khả quan. Ngoài việc cung cấp giống của các viện, trường, cùng với sự giúp đỡ của Nhà nước và nhà khoa học, nông dân có nhiều sáng tạo trong việc tạo chọn và tuyển chọn giống cây ăn quả tốt để đưa vào sản xuất, như: giống bưởi da xanh, xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng cơm vàng hạt lép Chín Hóa, 6 Ri, thanh long ruột đỏ Long Định 1, ruột trắng Chợ Gạo; vú sữa Lò Rèn ở Vĩnh Kim (Tiền Giang), vú sữa bơ ở Lai Vung (Đồng Tháp). Một số loại trái cây ngon, chất lượng cao, nổi tiếng như nhãn tiêu, xoài cát (Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang), quýt hồng Lai Vung (Đồng Tháp), cam sành Tam Bình (Vĩnh Long),... phát triển thành vùng chuyên canh, tập trung với quy mô lớn, sản lượng hàng hóa nhiều, theo mô hình kinh tế trang trại gia đình đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhà vườn. Vùng trồng cam, quýt tập trung ở TP Cần Thơ, hằng năm cung cấp cho thị trường hơn 100 nghìn tấn quả có chất lượng, riêng Bến Tre là 90 nghìn tấn quả". Đặc biệt, để phát huy thế mạnh của vùng, nhằm bảo đảm chất lượng trái cây an toàn trước và sau thu hoạch, phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và ngoài nước. Các tỉnh ĐBSCL đã thực hiện "Liên kết tiêu thụ trái cây an toàn khu vực sông Tiền" (Good Agriculture Practice, gọi tắt là GAP). Liên kết GAP được thành lập vào tháng 3-2005, thu hút hơn 100 hợp tác xã, công ty, doanh nghiệp sản xuất trái cây, các trung tâm, các viện nghiên cứu trong khu vực. Đây là mô hình liên kết bốn nhà (nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, Nhà nước) của các tỉnh: TP Hồ Chí Minh, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh để hình thành khu vực sản xuất tập trung trái cây quy mô lớn, an toàn, chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế có thế mạnh cạnh tranh của Việt Nam, làm trung tâm sản xuất và cung cấp giống cây ăn trái cho cả nước. Đồng thời, tổ chức lại hệ thống tiêu thụ trái cây nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Tuy mới tiến hành liên kết hơn bốn năm, GAP sông Tiền đã mở ra hướng đi mới cho vùng cây ăn trái ĐBSCL, nâng cấp giá trị thương phẩm và tạo cơ hội mới cho các nhà vườn.

Bưởi Năm Roi ở tỉnh Vĩnh Long.

Những hạn chế và giải pháp khắc phục

ĐBSCL được xem là vùng an ninh lương thực và sản xuất nông nghiệp trọng điểm với sản lượng lúa chiếm 52% và 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước; thủy sản chiếm 80% và cây ăn quả chiếm 70% sản lượng cả nước. Nhưng so với nhiều vùng, miền trong cả nước, nông dân ĐBSCL còn hạn chế cả về vốn, trình độ và mức độ thụ hưởng an sinh xã hội. Trong khi đó, sản xuất nông nghiệp ở ĐBSCL ngày càng gặp nhiều khó khăn, rủi ro và thiếu bền vững. Sản xuất phát triển, hàng nông sản xuất khẩu ngày càng nhiều nhưng nông dân vẫn nghèo cho nên không hấp dẫn họ gắn bó với nghề. Mức độ đầu tư (nhất là khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng...) cho sản xuất nông nghiệp còn thấp, chưa đồng bộ. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm, nông dân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu đồng bộ và chưa kết nối thị trường. Trong khi chi phí sản xuất tăng cao, giá các mặt hàng nông sản bấp bênh, yếu tố thời tiết bất thường, nhiều loại dịch hại nguy hiểm xuất hiện khiến chất lượng con giống, vật nuôi, cây trồng ảnh hưởng nhiều đến năng suất, chất lượng sản phẩm. Điểm yếu nhất là cơ giới hóa trong nông nghiệp chỉ tập trung ở khâu làm đất, vận chuyển và xay xát lúa gạo; còn các khâu gieo cấy, chăm sóc, thu hoạch lúa và các loại cây trồng khác mức độ cơ giới hóa rất thấp, chủ yếu là lao động thủ công. Hiện nay, khu vực ĐBSCL có khoảng ba nghìn máy đập liên hợp, 3.500 máy gặt rải hàng. Năng lực hiện tại của máy móc chỉ đáp ứng được khoảng 15% diện tích thu hoạch lúa toàn vùng. Ở Sóc Trăng, Bạc Liêu - một trong những vùng trọng điểm lúa gạo, số máy gặt chỉ đếm trên đầu ngón tay. Chỉ có Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Long An là mạnh dạn đầu tư cho nông dân vay vốn mua máy nhưng cũng chỉ đáp ứng khoảng 35 - 40% diện tích thu hoạch. ĐBSCL gieo trồng bốn triệu ha lúa mỗi năm, phần lớn diện tích còn thu hoạch thủ công, tỷ lệ thất thoát tới hai triệu tấn lúa/năm, chiếm 14% sản lượng lúa toàn vùng. Nếu tính thời giá hiện nay nông dân thiệt hại hơn 3.500 tỷ đồng. Hơn nữa, do chưa có công nghệ xử lý, bảo quản sau thu hoạch, giá thương phẩm các loại lương thực cũng bị giảm tới 20%.

Để ĐBSCL phát triển nhanh và vững chắc hơn, bên cạnh sự nỗ lực chủ quan của các địa phương và bà con trong vùng, rất cần sự quan tâm và hỗ trợ tích cực của Nhà nước về cơ chế, chính sách, vốn đầu tư, khoa học - công nghệ, thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa trong nước và ngoài nước. Nhà nước cần hỗ trợ, cung cấp thông tin thị trường một cách nhanh chóng và chính xác để làm cơ sở cho sự phát triển đối tượng cây trồng, vật nuôi, số lượng để bảo đảm cho nông dân đầu tư sản xuất hiệu quả. Mặt khác, nhanh chóng hình thành những vùng quy hoạch đối tượng cây trồng, vật nuôi thật cụ thể. Các nhà khoa học cần đưa ra những quy trình sản xuất, nhất là đối với các loại cây trồng, vật nuôi có hiệu quả kinh tế cao. Các tỉnh, thành phố ĐBSCL cần phải đẩy mạnh liên kết vùng và liên kết bốn nhà. Từ đó, mới tạo ra được các chính sách, triển khai đồng bộ, nhịp nhàng, giúp phát huy thế mạnh cạnh tranh của từng địa phương. Đồng thời tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; tăng cường công tác giáo dục đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho nông dân và chuyển dịch một bộ phận lao động ở nông thôn sang lĩnh vực lao động khác; đẩy mạnh đầu tư và ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nhằm tăng năng suất và tạo ra những sản phẩm nông nghiệp sạch, có chất lượng và giá trị cao, phát triển và bảo vệ thị trường... Trước hết, cần đẩy nhanh hơn nữa khâu cơ giới hóa trong thu hoạch lúa, một mặt giải quyết vấn đề nhân công, mặt khác giảm chi phí sản xuất và giảm thất thoát sau thu hoạch. Vấn đề hiện nay là, giá máy còn khá cao (khoảng 200 triệu đồng/chiếc), nên không phải ai cũng mua được. Do đó, Nhà nước cần hỗ trợ nông dân về vốn hoặc tổ chức dịch vụ thu hoạch cho họ.

Bài và ảnh: ĐỖ NAM

Tin mới