UNCLOS và an ninh hàng hải ở Biển Đông

ANTG -  1 tin đăng lại

Từ ngày 1 đến 3/6/2012, tại khách sạn Shangri-La, Singapore, diễn ra Hội nghị An ninh châu Á lần thứ 11, thường gọi là Đối thoại Shangri-La. Tại hội nghị này, vấn đề biển Đông và an ninh hàng hải được xem là đề tài trọng tâm để các đại biểu của 28 quốc gia và 16 bộ trưởng Quốc phòng trong khu vực, kể cả Mỹ, tham gia bàn thảo.

Hội nghị diễn ra trong bối cảnh tranh chấp chủ quyền căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines vẫn chưa có dấu hiệu "xuống thang", là dịp tốt để các quốc gia có liên quan đến tranh chấp biển Đông (trong đó có Việt Nam) đưa vấn đề ra thảo luận nhằm tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng cho biển Đông.

Quá trình ra đời UNCLOS

Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) là kết quả của Hội nghị LHQ lần thứ 3 về Luật Biển (UNCLOS III). UNCLOS chính thức được ký kết vào năm 1982, 9 năm sau hội nghị UNCLOS III (1973-1982). Thêm 12 năm nữa, đến năm 1994, UNCLOS mới chính thức có hiệu lực sau khi được 60 quốc gia phê chuẩn. Từ đó đến nay, thêm nhiều quốc gia tham gia ký kết và phê chuẩn UNCLOS, tổng cộng có 162 quốc gia cùng Cộng đồng châu Âu.

Trước khi UNCLOS ra đời, thế giới cũng từng có những thỏa thuận, quy tắc về biển. Từ thế kỷ XVII, khái niệm "tự do hàng hải" đã xuất hiện trong các thỏa thuận về biển. Khi đó, quy định về sự hạn chế vùng đặc quyền của mỗi quốc gia ven biển đã ra đời. Theo quy tắc "tầm đại bác" do quan tư pháp Hà Lan khi đó là Cornelius van Bynkershoek soạn thảo, mỗi quốc gia chỉ được hưởng vùng đặc quyền từ bờ biển ra xa 3 hải lý, tức tương đương tầm bắn một quả đại bác thời đó.

Sang đầu thế kỷ XX, trước tình trạng ngày càng nhiều quốc gia tuyên bố chủ quyền tài nguyên biển, Hội quốc liên đã tổ chức một hội nghị ở La Haye để thảo luận về vấn đề này nhưng không đi đến thỏa thuận nào.

Hội nghị không chính thức của UNCLOS năm 1975.

Đến năm 1945, chính quyền Mỹ thời Tổng thống Harry Truman đã vận dụng nguyên tắc luật pháp quốc tế về quyền của một quốc gia để mở rộng quyền kiểm soát nguồn tài nguyên biển trên toàn bộ vùng thềm lục địa của mình. Theo sau Mỹ, hàng loạt quốc gia như Argentina, Chile, Peru, Ecuador cũng đã tuyên bố mở rộng vùng chủ quyền ra xa 200 hải lý.

Đến năm 1967, sau khi một số công ước về Luật Biển đã có hiệu lực, còn đến 25 quốc gia vẫn theo quy tắc "tầm đại bác", trong khi có đến 66 quốc gia áp dụng quy tắc 12 hải lý và 8 nước đã triển khai vùng đặc quyền 200 hải lý. Điều lạ lùng là, đến tháng 5/2008, vẫn còn 2 quốc gia là Jordan và Palau vẫn áp dụng quy tắc "cổ lổ sĩ" 3 hải lý!

Tiến trình hình thành UNCLOS bắt đầu từ năm 1956, với việc LHQ tổ chức Hội nghị lần thứ nhất về Luật Biển (UNCLOS I) tại Geneva, Thụy Sĩ. Hội nghị này đã cho ra đời 4 văn kiện về biển, bao gồm: Công ước về Lãnh hải và vùng tiếp giáp (có hiệu lực từ ngày 10/9/1964); Công ước về Thềm lục địa (có hiệu lực ngày 10/6/1964); Công ước về các vùng hải phận quốc tế (có hiệu lực từ 30/9/1962); và Công ước về khai thác hải sản và bảo tồn nguồn tài nguyên sống ở hải phận quốc tế (có hiệu lực vào ngày 20/3/1966). UNCLOS I là một thành công bước đầu.

Năm 1960, LHQ tổ chức Hội nghị lần thứ 2 về Luật Biển (UNCLOS II), kéo dài trong 6 tuần, nhưng hoàn toàn không đạt được thỏa thuận nào. Các quốc gia tham gia hội nghị đã không thể có tiếng nói chung về bất cứ vấn đề gì, vì lúc này, Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô khiến cho thế giới phân làm 2 cực đối chọi nhau. UNCLOS đã thất bại.

Việc nhiều quốc gia đưa ra những tuyên bố chủ quyền lãnh hải khác nhau đã đặt ra một vấn đề lớn cần giải quyết. Và Hội nghị LHQ lần thứ ba về Luật Biển (UNCLOS III) diễn ra vào năm 1973 tại thành phố New York (Mỹ) đã giải quyết được vấn đề này. Hội nghị thu hút 160 quốc gia tham dự và kéo dài 9 năm, và kết quả là UNCLOS được ký kết vào năm 1982, có hiệu lực thi hành từ ngày 16/11/1994.

Nội dung chính của UNCLOS năm 1982 là những quy định liên quan đến tự do hàng hải quốc tế, các quy tắc ứng xử đối với vùng biển bên ngoài vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), quy định về biển đảo, việc sử dụng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mỗi quốc gia và vấn đề khai thác các nguồn tài nguyên biển, trong đó quan trọng nhất là khai thác khoáng sản dưới đáy đại dương và đánh bắt hải sản trong vùng hải phận quốc tế.

UNCLOS dành hẳn một phần để quy định cơ chế kiểm soát vấn đề khai thác khoáng sản dưới đáy đại dương bên ngoài vùng EEZ. Phần XI của UNCLOS quy định việc lập ra một cơ quan gọi là Cơ quan Quản lý đáy biển quốc tế (ISA) phụ trách việc cấp phép thăm dò và khai thác khoáng sản dưới lòng đại dương, đồng thời phân phối và thu phí khai khoáng. UNCLOS đã điều chỉnh quy định về vùng biển EEZ, theo đó mỗi quốc gia được hưởng đặc quyền vùng biển EEZ 200 hải lý (370 km) tính từ đường cơ sở, và các quy định cụ thể về quyền chủ quyền của mỗi quốc gia đối với các vùng nội thủy, vùng hải phận 12 hải lý và vùng tiếp giáp, bên ngoài vùng hải phận.

An ninh hàng hải qua biển đông là vấn đề quan tâm hàng đầu của thế giới.

Mỹ, UNCLOS và Biển Đông

Ngay trước giờ khai mạc Đối thoại Shangri-La 11, thông tin báo chí xung quanh chương trình nghị sự của hội nghị này đã đồng loạt đưa ra nhận định chắc chắn vấn đề tranh chấp trên biển Đông sẽ là chủ đề chính trong các cuộc bàn thảo, trao đổi tại hội nghị. Các chuyên gia về Luật Biển thì nhận định rằng, cách tốt nhất để giải quyết các tranh chấp ở biển Đông hiện nay là dựa vào UNCLOS, nói cách khác, các quốc gia có liên quan trong biển Đông (đồng thời cũng đã đặt bút ký và phê chuẩn) cần phải tôn trọng những quy định trong UNCLOS.

Tuy nhiên, khi Trung Quốc bất chấp UNCLOS, tìm cách lách luật và thao túng một số quy định trong UNCLOS, thì chỉ có mang vấn đề ra bàn nghị sự quốc tế là cách tốt nhất để các quốc gia khu vực Đông Nam Á có tranh chấp biển Đông với Trung Quốc có thể giải quyết vấn đề một cách có lợi nhất, tránh bị Trung Quốc chèn ép, lợi dụng.

Tình hình tranh chấp trên biển Đông hiện nay vẫn đang hết sức căng thẳng, với việc Trung Quốc và Philippines tiếp tục có những hành động và tuyên bố trái ngược nhau về chủ quyền tại bãi đá Scarborough/Hoàng Nham. Điều đáng nói là việc Trung Quốc đơn phương đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá trên biển Đông đã xâm phạm chủ quyền và lợi ích hàng hải của nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt Nam. Cái cách Trung Quốc hành xử trên biển Đông đang khiến cho giới chuyên gia quan ngại nước này đang thách thức ý chí và sự kiên định của các quốc gia trong khu vực, và một khi vượt qua được bước thử thách này, họ sẽ thành công trong việc thực hiện mục tiêu độc chiếm biển Đông.

Đó chính là điều mà Mỹ quan tâm nhất khi tìm cách can thiệp vào các tranh chấp biển Đông. Tuy nhiên, cho dù rất muốn tham gia vào giải quyết các tranh chấp trên biển Đông để "bảo vệ các đồng minh", vị thế của Mỹ còn yếu vì thiếu tư cách pháp lý. Mỹ cần phải phê chuẩn UNCLOS, trở thành thành viên tham gia Công ước về Luật Biển 1982 thì mới có thể cất tiếng nói một cách "danh chính ngôn thuận".

Cho đến nay, thiếu sót lớn nhất của UNCLOS chính là thiếu sự tham gia ký kết cũng như phê chuẩn của Mỹ - quốc gia đóng vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế thế giới cũng như việc sử dụng và bảo vệ nguồn lợi biển. Vào năm 1994, UNCLOS đã có một điều chỉnh quan trọng là nước Mỹ được một ghế thường trực trong Hội đồng quản lý đáy biển gồm 33 thành viên, theo yêu cầu của Mỹ. Rồi cả 2 đời tổng thống Mỹ Bill Clinton và George W. Bush, cùng với một nhóm nghị sĩ Quốc hội Mỹ đều ủng hộ việc Mỹ tham gia ký kết và phê chuẩn UNCLOS. Thế nhưng, rốt cuộc UNCLOS vẫn chưa có được chữ ký của quốc gia này.

Tại sao cho đến nay Mỹ vẫn chưa tham gia ký kết UNCLOS? Nguyên nhân có thể được lý giải phần nào trong một bức thư đề ngày 17/9/2007 của Thống đốc bang Alaska khi đó là bà Sarah Palin gửi cho các thượng nghị sĩ bang mình. Trong thư có đoạn viết: "Việc phê chuẩn (UNCLOS) đã bị ngăn cản bởi một nhóm nhỏ các thượng nghị sĩ do lo ngại về điều mà họ nghĩ là sự mất chủ quyền của nước Mỹ". Ngày nay, khi vấn đề phê chuẩn UNCLOS tiếp tục được mang ra nghị sự, lại thêm một nhóm nghị sĩ nữa chủ trương chống lại việc phê chuẩn.

Nhiều giới ở Mỹ đang sốt ruột trước việc nước Mỹ đứng ngoài UNCLOS quá lâu, và việc này có thể ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi kinh tế và lợi ích an ninh của nước Mỹ - như lời bà Ngoại trưởng Hillary Clinton tại cuộc điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ hôm 23/5.

Trong vấn đề tranh chấp ở biển Đông, ngoài việc "bảo vệ các đồng minh", Mỹ cũng tự xem mình có một phần lợi ích ở biển Đông nên rất muốn can thiệp vào. Khi tham dự Diễn đàn An ninh ASEAN (ARF) năm 2010, giữa lúc những tranh chấp trên biển Đông bắt đầu nóng lên, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã từng phát biểu rằng Mỹ có lợi ích quốc gia trong việc duy trì tự do hàng hải tại biển Đông.

Phát biểu của bà Hillary được Bắc Kinh coi là sự ủng hộ đối với một số quốc gia trong tranh chấp chủ quyền tại biển Đông với Trung Quốc. Tại buổi điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Quốc hội Mỹ, bà Hillary Clinton cũng nhắc lại rằng nước Mỹ cần phải tham gia UNCLOS. Tham gia UNCLOS, Mỹ không chỉ đủ tư cách can thiệp vào biển Đông, bảo đảm quyền lợi an ninh trên đường hàng hải đi qua khu vực này, mà còn bảo đảm những quyền lợi kinh tế quan trọng tại các khu vực khác. Các công ty năng lượng của Mỹ sẽ là những đối tượng hưởng lợi đầu tiên.

Chưa hết, theo một báo cáo an ninh hàng hải năm 2010, với việc tham gia UNCLOS, Mỹ sẽ có đầy đủ quyền hạn để bảo đảm những lợi ích quan trọng trên nhiều lĩnh vực, bao gồm cả ngoại giao, quân sự, hoạch định chính sách, và kinh tế tại khu vực Bắc Cực trong tình hình các khối băng Bắc Cực đang tan chảy ngày càng nhiều, mở ra một tuyến hàng hải quan trọng, kể cả những khu vực có tiềm năng dầu hỏa dưới đáy biển