Mặt khác, khi mua nhà tại Việt Nam, Việt kiều cũng hoàn toàn có quyền định đoạt tài sản của mình như cho, tặng, cho thuê, bán lại hay dùng để thế chấp ngân hàng…
Sau đây là phần tư vấn chính sách nhà ở dành cho Việt kiều của luật sư Trương Thị Hòa tại buổi gặp gỡ kiều bào tại TP.HCM vừa qua:
- Theo cách hiểu thông thường thì “Việt kiều” là người Việt Nam đang sinh sống ở nước ngoài. Nhưng theo Luật quốc tịch Việt Nam thì không gọi là “Việt kiều” hay nói khác đi, Việt kiều theo chúng ta hiểu thông thường sẽ gồm có công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam (bao gồm người có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống, con, cháu của họ) cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài.
Theo Điều 126 Luật nhà ở đã được Quốc hội sửa đổi theo Luật số 34/2009/QH12 ngày 18-6-2009, thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam:
a) Người có quốc tịch Việt Nam;
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
c) Người gốc Việt Nam không thuộc các diện trên đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực.
Và điều kiện chung của tất cả đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nêu trên có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam là “được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên”.
Theo quy định của pháp luật thì hiện nay người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ được phép mua nhà ở, bao gồm nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đó có cả căn nhà chứ không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất riêng rẽ (không có nhà trên đất). Sau khi đã có quyền sở hữu hợp pháp đối với nhà ở theo đúng quy định của pháp luật thì Việt kiều có các quyền đối với căn nhà như sau:
d) Bán, tặng cho, để thừa kế, đổi nhà ở gắn với việc chuyển quyền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để ở. Trường hợp tặng cho, để thừa kế cho đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở, gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
e) Tặng cho nhà ở gắn với quyền sử dụng đất ở cho Nhà nước, cộng đồng dân cư, tặng cho nhà tình nghĩa.
f) Thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam.
g) Cho thuê, ủy quyền quản lý nhà ở trong thời gian không sử dụng.
- Theo Điều 13 Khoản 2 Luật quốc tịch Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam nếu:
h) Chưa mất quốc tịch Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam trước ngày 1-7-2009.
i) và trong thời hạn 5 năm (kể từ ngày 1-7-2009 đến ngày 1-7-2014) đã đăng ký với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để giữ quốc tịch Việt Nam.
Và theo Điều 26 Luật quốc tịch Việt Nam, các căn cứ mất quốc tịch Việt Nam cơ bản là :
- Được thôi quốc tịch Việt Nam
- Bị tước quốc tịch Việt Nam
Không đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam trong thời hạn 5 năm kể từ ngày Luật quốc tịch Việt Nam có hiệu lực (tức kể từ ngày 1-7-2009 đến ngày 1-7-2014).
Do đó trường hợp nếu chưa bị mất quốc tịch theo những căn cứ nêu trên, thì cần làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở Canada để được cấp giấy xác nhận đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam.
Ngoài ra, một điều kiện chung cần có để đủ điều kiện sở hữu nhà tại Việt Nam là “được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên”.
- Trường hợp nếu muốn sở hữu nhà không hạn chế trước hết phải làm thủ tục đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại cơ quan đại diện Việt Nam ở Pháp trong thời hạn 5 năm, kể từ ngày 1-7-2009 đến ngày 1-7-2014.
Còn về thẻ thường trú đã được cấp có được xem là giấy phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên hay không, theo quy định của Luật sửa đổi bổ sung điều 126 của Luật nhà ở và điều 121 của Luật đất đai thì phải chờ hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền.
- Theo điều 126 Luật nhà ở (được sửa đổi bổ sung theo Luật số 34/2009/QH12 ngày 18-6-2009 có hiệu lực từ ngày 1-9-2009) quy định:
Theo quy định của pháp luật hiện nay, người Việt Nam định cư ở người ngoài nếu đủ điều kiện cho phép thì chỉ mới có quyền sở hữu nhà ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam. Pháp luật chưa cho phép người Việt Nam định cư ở người ngoài sở hữu nhà tại Việt Nam cho mục đích kinh doanh.
Còn về việc thế chấp nhà mua tại Việt Nam để vay trả góp ngân hàng, hiện nay pháp luật chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thế chấp này. Đề nghị liên hệ trực tiếp các ngân hàng để biết rõ các thủ tục.
- Con của ông bà mang quốc tịch Pháp và thuộc trường hợp người có gốc Việt Nam. Theo Điều 126 Luật nhà ở đã được Quốc hội sửa đổi theo Luật số 34/2009/QH12 ngày 18-6-2009, thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam:
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
c) Người gốc Việt Nam không thuộc các diện trên đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên.
Điều kiện chung của tất cả đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nêu trên có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam là “được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên”. Như vậy, nếu con của ông bà được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì được quyền mua nhà ở tại Việt Nam.
- Ông, bà mang quốc tịch Pháp nhưng nếu muốn giữ quốc tịch Việt Nam thì phải đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam tại cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở Pháp trong thời hạn năm năm từ ngày 1-7-2009 đến ngày 1-7-2014.
Ông, bà muốn mua nhà ở tại Việt Nam thì cần theo các điều kiện quy định tại Điều 126 Luật nhà ở đã được Quốc hội sửa đổi theo Luật số 34/2009/QH12 ngày 18-6-2009. Cụ thể: người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam:
a) Người có quốc tịch Việt Nam;
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
c) Người gốc Việt Nam không thuộc các diện trên đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp giấy miễn thị thực.
Và điều kiện chung của tất cả đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nêu trên có quyền sở hữu nhà tại Việt Nam là “được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên”.
Như vậy, sau khi ông, bà đã đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam thì ông, bà cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì ông, bà đủ điều kiện để được mua nhà ở Việt Nam.
Mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề nhà đất, thủ tục giấy tờ liên quan đến sổ đỏ, sổ hồng... hoặc bài vở cộng tác, bạn đọc gửi về mục "Tư vấn nhà đất" hoặc "Địa ốc" tại địa chỉ: diaoc@tuoitre.com.vn.
Để chính xác về nội dung, vấn đề cần hỏi, bạn đọc vui lòng gõ có dấu (font chữ Unicode). Chân thành cảm ơn.
HOÀI TRANG thực hiện
Mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề nhà đất, thủ tục giấy tờ liên quan đến sổ đỏ, sổ hồng... hoặc bài vở cộng tác, bạn đọc gửi về mục "Tư vấn nhà đất" hoặc "Địa ốc" tại địa chỉ: diaoc@tuoitre.com.vn.
Để chính xác về nội dung, vấn đề cần hỏi, bạn đọc vui lòng gõ có dấu (font chữ Unicode). Chân thành cảm ơn.