Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhân dân - 

1. Trọng dân, gần dân, thân dân, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, vì nhân dân quên mình, chăm lo đến lợi ích của dân, dân chủ với dân, thật sự tôn vinh nhân dân làm chủ xã hội là một tư tưởng lớn, mang tính văn hóa, nhân văn, nhân đạo cao cả và tính cách mạng, tính nhân dân sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một người tận tâm suốt đời với sự nghiệp đấu tranh để giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.

Chưa thấy ai nói lên được đầy đủ nỗi khổ của nhân dân, phản ánh chân thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và cũng chưa thấy ai bênh vực quyền lợi cho nhân dân như Hồ Chí Minh.

Ngay từ những năm, tháng gian nan vất vả đi tìm đường cứu nước, Người đã nói rõ mục đích của mình là để giải quyết vấn đề dân tộc và dân chủ ở Việt Nam. Dân tộc là đấu tranh để giải phóng dân tộc, dân chủ là giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân. Tư tưởng dân chủ của Người được phát triển từng bước, khi Người khẳng định: Nước ta là nước dân chủ. Một nước dân chủ, theo quan điểm của Người là tất cả lợi ích, quyền hạn, quyền hành, trách nhiệm đều quy về nơi dân, đều ở nơi dân. "Nhân dân", hai tiếng thiêng liêng ấy vang lên trong lòng Người, cũng là tiếng chuông rung lên trong hàng triệu, hàng triệu trái tim của nhân dân Việt Nam. Ngay từ năm 1907, 1908, Người đã chứng kiến sức quật khởi vùng lên của nhân dân trong phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ. Từ "đồng bào" (chung một bọc) được Người dùng từ đây và trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Người lấy đức, lấy tình thương yêu thật sự để cảm hóa dân.

Tư tưởng trọng dân được thể hiện không chỉ ở những trang sách lý luận bàn về dân, dân làm chủ, mà điểm chính yếu là người ta đã tìm thấy trong hoạt động thực tiễn của Người. Trọng dân, Người đến với dân. Trọng dân, Người gần gũi với các cụ già, trẻ thơ, thăm hỏi ân cần những người dân lương thiện, lao động cần cù, một nắng hai sương, an ủi họ, tạo mọi điều kiện để họ có cơ hội sống tốt, sống khỏe, sống vì mình, vì người, vì cộng đồng của 54 dân tộc anh em.

Tư tưởng dân chủ là tư tưởng tiến bộ nhất của phương Tây thời cận, hiện đại. Hồ Chí Minh xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện tiếng nói của dân tộc là tiếng nói chung của nhân dân, các quyền của nhân dân, chính quyền thật sự của nhân dân.

Hồ Chí Minh nói nhiều đến lòng tin của người dân với Đảng và Nhà nước, cụ thể là với những người lãnh đạo, quản lý. Người cho rằng, muốn được dân tin Đảng, tin Nhà nước của mình, thì người lãnh đạo và quản lý, trước hết, phải dân chủ với dân, tôn trọng dân như tôn trọng chính bản thân mình. Không tôn trọng dân, không dân chủ với dân sẽ làm khoảng cách giữa Đảng, Nhà nước với dân ngày một xa, làm cho lãnh đạo và người dân cách biệt nhau, xa rời nhau. Người chỉ ra: Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra. Họ không nói, không phải vì họ không có ý kiến, nhưng vì họ nói ra, cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù dập. Họ không dám nói ra thì họ cứ để trong lòng, rồi sinh ra uất ức, chán nản. Rồi sinh ra thói "không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng", "trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm", sinh ra thói "thậm thà thậm thụt" và những thói xấu khác. Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cán bộ cần phải nâng cao, mở rộng dân chủ, để cho người dân được "mở mồm", động viên mọi người suy nghĩ để làm những việc ích lợi cho dân. Người nói: Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: Dân rất tốt. Theo Người: Mỗi công việc của Đảng phải giữ nguyên tắc và phải liên hợp chặt chẽ với dân chúng. Nếu không vậy, thì chẳng những không lãnh đạo được dân chúng mà cũng không học được dân chúng. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, đó là trọng dân.

Hồ Chí Minh đã thường xuyên giáo dục cán bộ phải làm tốt công tác vận động nhân dân. Dân vận là vận động từng người dân, góp thành lực lượng toàn dân để chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ đất nước. Điều quan trọng là kiên trì giải thích cho dân hiểu trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, lợi ích của mình. Người lãnh đạo chân chính bao giờ và bất cứ việc gì cũng phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, sao cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, lòng ham ý muốn của dân. Xét cho cùng, mọi cái đều từ dân mà ra và trở về nơi dân. Để cho dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra là trọng dân.

Hồ Chí Minh cho rằng, vấn đề quan trọng bậc nhất là vấn đề lợi ích của người dân. Nếu lãnh đạo mang lại lợi ích thiết thực cho dân, sẽ làm cho dân tin Đảng, tin chế độ. Nguyên tắc chung của chính sách với dân là tạo sự hài hòa giữa ba lợi ích: Lợi ích công dân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội, trong đó, phải hết sức coi trọng lợi ích của người lao động chân chính. Điều tiết thu nhập hợp lý và phân chia công bằng lợi ích giữa các tầng lớp nhân dân là việc làm có ý nghĩa nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Muốn mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, trước hết, phải có chính sách đúng. Quan điểm của Hồ Chí Minh là, tất cả đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều có ảnh hưởng trực tiếp đến dân, đều phải hướng vào dân và nhằm nâng cao đời sống của nhân dân. Trong Di chúc, Người viết: Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân (Người gạch dưới nhấn mạnh cụm từ "nâng cao đời sống của nhân dân"). Mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, là trọng dân.

2. Hồ Chí Minh là người có phong cách rất đặc biệt để gần dân. Đó là phong cách cao thượng đến giản dị. Tiết kiệm và giản dị là phong cách nổi trội của Hồ Chí Minh. Vì vậy, dân được đến với Người, được đứng bên người, được trò chuyện với Người, như được trò chuyện với người hiền, người cha, người thân yêu nhất của mình. Đến với nông dân, Người mặc quần nâu, áo vải, khăn mặt vắt vai, đầu đội mũ cát. Đến với công nhân, Người mặc bộ quần áo xanh đã bạc mầu, đi đôi dép cao-su. Đến với trí thức, Người mặc bộ quần áo ka-ki mầu vàng, đi đôi giày vải, thể hiện sự hòa đồng rất tự nhiên với nhân dân lao động nói chung.

Sự tiết kiệm đến mẫu mực, thể hiện phong cách cao thượng của Hồ Chí Minh.

Tham ô (mà ngày nay chúng ta gọi là tham nhũng) và lãng phí, dựa vào tiền "chùa" để ăn chơi vung phí, cái mà Người ghét cay, ghét đắng, thường xuyên lên án. Người nói: Tham ô là hành động xấu xa nhất, tội lỗi đê tiện nhất trong xã hội. Tham ô là trộm cắp của công, chiếm của công làm của tư. Nó làm hại đến sự nghiệp xây dựng nước nhà; hại đến công việc cải thiện đời sống của nhân dân; hại đến đạo đức cách mạng của người cán bộ và công nhân. Lãng phí tuy khác với tham ô ở chỗ người gây ra lãng phí không trực tiếp trộm cắp của công làm của riêng. Nhưng kết quả thì làm tổn hại nghiêm trọng cho Nhà nước, cho nhân dân.

Tiết kiệm thời giờ là một trong những phong cách đặc sắc, thể hiện đạo đức cao quý của Hồ Chí Minh. C.Mác có lần đã nói: Tiết kiệm thời gian chính là một trong những nguồn gốc để tạo nên giá trị và giá trị sử dụng. Với Hồ Chí Minh, vấn đề tiết kiệm thời gian được xem như "thì giờ là vàng ngọc", cho nên phải tiết kiệm thì giờ đi đôi với tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Nó phải được xem như là một yếu tố kinh tế - xã hội, là vấn đề mang tính quy luật của quá trình vận động xã hội. Người là hiện thân và mẫu mực của việc sử dụng thời gian hợp lý trong mọi công việc. Trong hồi ký của một vị lão thành cách mạng kể rằng, khi còn là người đi lao động làm thuê ở nước ngoài trong lộ trình đi tìm đường cứu nước, đã chiếm hết thời gian trong mỗi ngày của Bác, nhưng khi rảnh rỗi, nhất là về đêm, Bác lại tranh thủ học tập, nghiên cứu. Khi trở về Tổ quốc thân yêu để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, Bác đã dành hết thời gian để chăm lo, xây dựng lực lượng cách mạng, phát động quần chúng, tiến lên giành thắng lợi trong tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân. Trong những ngày hòa bình lập lại ở miền bắc, Bác thường xuyên nhắc nhở cán bộ và nhân dân phải tranh thủ mọi thời gian để lo vào việc sản xuất và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đối với miền bắc, ủng hộ đồng bào miền nam kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Tiết kiệm thời gian sẽ góp phần đẩy nhanh tới thống nhất đất nước.

Phong cách gần dân của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở những công việc giản dị, đơn sơ hằng ngày khi tiếp xúc với dân, ở cách cư xử đầy tính nhân văn của tình người, tình làng, nghĩa xóm. Trong Hồi ký: Con đường theo Bác, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã kể lại, trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, hồi ở núi rừng Việt Bắc, Đảng, Chính phủ và Bác đã phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước trong công nhân, nông dân, trường học, các lực lượng vũ trang như phong trào tăng gia, sản xuất, tiết kiệm. Bản thân tôi thuộc loại "chân yếu" (1), nhưng chiều nào cũng vác cuốc đi tăng gia. Có hôm cuốc đất tới lúc trời tối hẳn mới về. Sự cố gắng được đền bù bằng những luống rau xanh, bí, ngô, khoai. Tôi trồng được một vườn bí sai quả. Khi bí to, tôi hái vài quả, nhờ đồng chí thư ký mang sang biếu Bác. Bác nhận bí, rồi gửi lại đồng chí thư ký chuyển cho tôi bức thư. Trong thư, Bác đề vẻn vẹn có hai câu thơ:

"Ăn quả nhớ người trồng cây

Cảm ơn chú Việt. Bí này còn non".

Câu thơ của Bác nhắc nhở tôi đừng vội hái quả non, mọi cái phải đạt tới "độ chín" mới có giá trị. Cách nhắc nhở nhẹ nhàng của Bác làm tôi thấm sâu. Đặc điểm trong phong độ của Bác bao giờ cũng tế nhị, nhưng sâu sắc, chính vì thế mà Bác cảm hóa được nhiều người.

Tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là điểm hội tụ hợp thành đạo đức Hồ Chí Minh. Người là hiện thân của đạo đức, tình cảm, lương tâm, danh dự vì nhân dân.

Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Hồ Chí Minh là việc làm đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Tiếc rằng, trong hàng ngũ cán bộ, đảng viên còn không ít những người xa dân, lên mặt với dân. Miệng nói phục vụ nhân dân, nhưng trong lòng lại chỉ muốn nhân dân phục vụ mình. Miệng nói nguyện làm đầy tớ của dân, nhưng việc làm lại bắt dân làm đầy tớ cho mình, còn mình thì chễm trệ ngồi trên ghế ông chủ. Miệng nói mang lại lợi ích cho dân, nhưng trong lòng lại chỉ lo thu vén cho mình. Trên bục giảng, có người thao thao bất tuyệt về học tập đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng khi về đến nhà lại đánh nhau với người hàng xóm. Thật trớ trêu! Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải rất nghiêm túc trong việc học tập đạo đức Hồ Chí Minh. Học tập tư tưởng trọng dân và phong cách gần dân của Người, mỗi người chúng ta phải phấn đấu, rèn luyện rất gian khổ, thì mới có thể thấm nhuần tư tưởng đạo đức trọng dân và phong cách gần dân của Người.

Chúng ta hãy thực hiện điều mong ước của Người: Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng.

(1) Bản thân đồng chí Hoàng Quốc Việt, trong thời gian hoạt động bí mật của những ngày đầu thành lập Đảng, bị mật thám Pháp bắt, đánh đến tàn phế, què chân, suốt đời phải đi "cà nhắc", cho nên đồng chí đó thường nói vui: Tôi thuộc loại chân yếu, tay mềm.


Tin mới