Thơ Haiku của Nhật Bản chỉ với 15 âm tiết, chia làm ba dòng 5-7-5, mà diễn tả tâm não của thi nhân trước cảnh vật trong một “đệ nhất sát na” thì truyện cực ngắn cũng như vậy. Với một số từ ngữ tối giản và một hình ảnh cô đọng, truyện cực ngắn phải làm bật lên được một tư tưởng gì đó của tác giả. Như vậy, nhà văn phải luôn quan sát và tìm kiếm những hình ảnh văn chương trong đời sống khả dĩ diễn tả được tư tưởng riêng của mình.
Truyện cực ngắn như một chớp lóe của những hình ảnh vụt hiện trên cơ sở những tư tưởng mà người viết đã ấp ủ. Điều căn bản cho mọi tác giả là anh ta phải có một nền tảng triết học cơ bản của riêng mình. Từ đó anh ta tìm mọi cách diễn đạt những tư tưởng đó qua những hình ảnh của văn chương. Sự kết hợp này, nói như danh họa Thẩm Tông Khiên là “tác phẩm có một nửa chủ động và một nửa vô tình thì mới là kiệt tác”. Nếu không gói ghém một tư tưởng chủ đạo, chỉ thuần túy là những hình ảnh văn chương thì những hình ảnh đó rời rạc, thiếu sức sống và vô dụng. Còn nếu như chỉ có tư tưởng chủ đạo mà hình ảnh thiếu sinh động thì, nói như Huỳnh Phan Anh, tác phẩm sẽ không phải là một “công trình văn chương” mà chỉ là một “sơ đồ tư tưởng”. Nhiều khi người đời nhớ đến một truyện cực ngắn chỉ vì một hình ảnh tuyệt diệu hơn là chính tư tưởng của tác phẩm đó. Và đây cũng là điều khác biệt giữa triết học và văn chương. Yếu tính của văn chương, tức là cái làm cho văn chương là văn chương chính là ở hình ảnh diễn đạt. Còn yếu tính của triết học chính là những tư tưởng được hiển bày qua ngữ ngôn thuần túy. Vì thế công cuộc tìm kiếm hình ảnh diễn đạt là quan trọng bậc nhất của văn chương, đặc biệt là đối với thể loại truyện cực ngắn. Hơn thế nữa, từ mấy ngàn năm nay, những tư tưởng chính yếu đã được suy tư hết cả rồi. Đâu còn gì mới mẻ dưới ánh sáng mặt trời này nữa. Và các triết thuyết ra đời chỉ như những chú thích cuối trang của những tư tưởng chính yếu về khởi nguyên thế giới, về nỗi đau, tình yêu và cái chết mà thôi. Tức là những triết thuyết mới chỉ nhấn mạnh tầm quan trọng ở bình diện này hay bình diện khác của một dòng tư duy độc nhất về thân phận con người. Và điều mới mẻ tân kỳ của văn chương là tìm kiếm cách thức diễn đạt mới cho những điều đã cũ. Cùng diễn tả một ý mà Nguyễn Du thì viết “Gìn vàng giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời”, Trúc Phương thì ghi “những ngày anh đi khỏi, xin em chớ đi lại, vùng tình yêu lắm bẫy nhân gian, để đêm khói thuốc tay vàng…”. Riêng Đinh Miên Vũ thì hạ bút “nơi chốn xa buồn thương mẹ quàng gánh, em còn khêu sáng ánh đèn từ sương mai?”.
Những hình ảnh ấy tự chúng làm nên phong cách của tác giả và tạo dựng cho họ một danh tiếng lâu dài…
HOÀNG LONG