Thực hiện Di chúc thiêng liêng của Người, Đảng ta đã thường xuyên xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đã giành độc lập, tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước, giành những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử qua hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thành quả của cách mạng của Việt Nam, trong đó "Sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam"(1). Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là thành quả của quá trình Đảng ta đã quán triệt sâu sắc di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu trong mọi giai đoạn cách mạng. Đảng ta thường xuyên tự nâng cao trình độ lý luận và tổng kết thực tiễn, từng bước rút ra những kinh nghiệm, những bài học lịch sử để có cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam. Đảng ta trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn của cách mạng Việt Nam, đồng thời góp phần bảo vệ bằng thực tiễn cách mạng Việt Nam và chứng minh sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thể hiện ở đường lối chính trị đúng đắn. Bốn mươi năm qua, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ vào mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi đó đánh dấu bước ngoặt quyết định mở đường cho dân tộc Việt Nam tiến vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Cả nước bước vào công cuộc xây dựng CNXH đối diện với những thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước, trong khu vực và trên trường quốc tế. Qua bao thử thách, với bản lĩnh kiên cường của một đảng cách mạng, nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta lãnh đạo cả dân tộc tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước. Đặc biệt, vào những năm 90 của thế kỷ trước, trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp và tình hình đất nước có muôn vàn khó khăn, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân đã lựa chọn, giữ vững vai trò lãnh đạo, chèo lái "con thuyền" cách mạng Việt Nam vượt qua sóng gió, tiếp tục tiến lên. Đảng khởi xướng và lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đảng ta đã đề ra và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối cách mạng một cách đúng đắn, sáng tạo, bước đầu hình thành một hệ thống quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khai phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp thực tế nước ta, kế thừa và phát huy giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc. Đây là kết quả của một quá trình tìm tòi, tổng kết, đổi mới tư duy lý luận, nhận thức đúng đắn hơn về thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng ta ngày càng trưởng thành và có thêm kinh nghiệm lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình và nhiệm vụ mới.
Qua hơn 20 năm đổi mới, kinh tế - xã hội phát triển mạnh, đất nước có sự thay đổi căn bản, toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, thực tế tỏ rõ bản lĩnh chính trị của Đảng cũng như của từng cán bộ, đảng viên, đặc biệt trước những bước ngoặt của cách mạng.
Bản lĩnh chính trị cũng thể hiện ở sự dũng cảm, thẳng thắn thừa nhận sai lầm, khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa vì lợi ích của nhân dân. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã quán triệt quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một Đảng mà tự giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính"(2).
Bản lĩnh chính trị còn là tinh thần kiên quyết đấu tranh để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phê phán và bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống, phá cách mạng Việt Nam; thể hiện ở quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường lối, nhất là ở những bước ngoặt khó khăn, thách thức của cách mạng.
Là một đảng cách mạng, Đảng ta không chỉ có đường lối chính trị đúng, mà còn thể hiện ở sức mạnh tổ chức của Đảng. Do vậy, xây dựng hệ thống tổ chức Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức từ Trung ương đến cơ sở, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở đảng là vấn đề có ý nghĩa quyết định để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
Thực hiện Di chúc của Người, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã luôn kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của dân tộc và của chính mình. Trước hết, đó là truyền thống đoàn kết thống nhất; truyền thống gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân. Tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng được xây dựng và thường xuyên củng cố, trên cơ sở: Thống nhất về hệ tư tưởng, thống nhất về đường lối chính trị; đoàn kết trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình trên tinh thần đồng chí, có lý, có tình. Đó cũng chính là kinh nghiệm mà Đảng đã rút ra từ thực tiễn thực hiện đường lối đổi mới. Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là đường lối chiến lược cơ bản, lâu dài; là nguồn sức mạnh và động lực to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Để tập hợp, đoàn kết toàn dân, Đảng đề ra những mục tiêu cụ thể phù hợp từng điều kiện lịch sử cụ thể, đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. 40 năm thực hiện Di chúc của Người, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng, bản chất của Đảng không chỉ thể hiện ở chỗ mọi hoạt động của Đảng đều xuất phát vì lợi ích của nhân dân mà còn thể hiện Đảng luôn luôn gắn bó mật thiết với nhân dân.
Một trong những truyền thống của Đảng ta là truyền thống đấu tranh kiên cường bất khuất, sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn, gian khổ, sẵn sàng chịu đựng hy sinh, phấn đấu vì mục đích, lý tưởng của Đảng, của các thế hệ đảng viên. Bởi vì, Đảng thực hiện chức năng lãnh đạo không chỉ thông qua hệ thống tổ chức Đảng, mà còn thông qua đội ngũ cán bộ, đảng viên, bằng công tác thuyết phục, giáo dục và bằng hành vi gương mẫu của cán bộ, đảng viên.
Kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống quý báu đó của Đảng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng không chỉ quan tâm xây dựng đội ngũ đảng viên về số lượng (năm 1975 có 1.516 nghìn đảng viên; nay là hơn ba triệu đảng viên), mà còn chú trọng xây dựng đội ngũ đảng viên đủ phẩm chất và năng lực lãnh đạo, tổ chức quần chúng phấn đấu thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng. Sức mạnh của Đảng thể hiện ở tính kỷ luật, tính tiên phong gương mẫu của từng đảng viên và luôn luôn đấu tranh làm trong sạch đội ngũ đảng viên. Có thể khẳng định rằng, với đội ngũ đảng viên trung kiên được tôi luyện qua quá trình cách mạng đã góp phần to lớn làm nên những chiến công vĩ đại mà dân tộc Việt Nam đã giành được từ Cách mạng Tháng Tám đến nay, đặc biệt là những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới. Đến nay: "Chúng ta tự hào về dân tộc ta - một dân tộc anh hùng, thông minh và sáng tạo, tự hào về Đảng ta - Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện, một lòng một dạ chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân"(3).
Lịch sử Đảng ta từ khi ra đời đến nay, nhất là trong 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã khẳng định: Đảng ta luôn đứng vững trên lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
Phía trước còn nhiều khó khăn, thách thức... Song, với bề dày truyền thống và bản lĩnh cách mạng kiên cường, Đảng ta nhất định lãnh đạo toàn dân tộc nhạy bén nắm bắt thời cơ, vững vàng vượt qua thách thức, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.
.......................................
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Nxb CTQG, H 1999, tr.23.
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, H 1995, t.5, tr.261.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam,Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H 2001, tr.64.