Triệu chứng và cách phòng bệnh lở mồm long móng ở heo

Dân Việt - 

Trieu chung va cach phong benh lo mom long mong o heo

(Dân Việt) - Theo số liệu thống kê giữa tháng 3.2011, đàn gia súc của 26 địa phương trên cả nước đã mắc dịch lở mồm long móng khiến cho nhiều hộ nông dân chăn nuôi điêu đứng, mất trắng vốn và công sức bấy lâu.

Đứng trước tình hình dịch bệnh, Công ty CP GreenFeed Việt Nam đã phối hợp với TS Đỗ Võ Anh Khoa - chuyên gia trong lĩnh vực chăn nuôi của Trường Đại học Cần Thơ, tư vấn giúp bà con sớm tìm ra các dấu hiệu của bệnh ở đàn heo cũng như nhanh chóng phòng chữa và điều trị bệnh hiệu quả.

Chi nhánh giống Cẩm Mỹ của GreenFeed tại ấp 10, xã Xuân Tây, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Cơ chế sinh bệnh

Virus có thể lây truyền qua đường tiêu hóa, hô hấp, vết thương ngoài da, bào thai... Sau khi xâm nhập vào cơ thể, virus sản sinh trong lớp tế bào thượng bì của ống tiêu hóa hoặc ở da gây thủy thủng và hình thành mụn nước sơ phát. Sau đó, virus vào máu gây sốt và chủ yếu phát triển ở lớp mô biểu bì.

Cuối giai đoạn sốt, virus nhân lên và gây nên các mụn nước ở miệng, kẽ chân, da, móng chân, núm vú… kết hợp với phản ứng viêm, mụn nước phát triển to lên dần rồi vỡ ra tạo điều kiện nhiễm trùng kế phát, gây hoại tử cục bộ, có khi gây bại huyết. Trong trường hợp virus sản sinh ở vùng tim, có thể gây thoái hóa cơ tim làm con vật suy yếu và chết. Heo thường bài xuất virus 10 ngày trước khi có triệu chứng lâm sàng.

Triệu chứng

Thời gian nung bệnh từ 2-12 ngày. Con vật sốt, bỏ ăn, tổn thương ở miệng và chân. Heo có thể ít hoặc không chảy nước dãi, chân đau đi đứng khó khăn. Nếu bệnh nặng, heo thường ở tư thế ngồi quỳ hai đầu gối chân trước, heo nái có thể bị sẩy thai.

Đặc trưng của bệnh là các mụn nước nằm ở mõm, xoang miệng, lưỡi, nướu, mũi, phần da tiếp giáp với móng, đầu vú. Mổ khảo sát có thể thấy heo bị viêm cơ tim cấp (tim mềm nhạt, dễ vỡ, có những đốm xám đỏ); bại huyết (cương mạch, lách sưng đậm,…); viêm màng phổi, phổi; viêm dạ dày, viêm ruột cấp tính. Tỉ lệ chết cao đối với heo con (80-100%) và giảm dần ở heo trưởng thành (5-10%).

Phòng bệnh

Khi chưa có dịch: Thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng dịch và kiểm soát vận chuyển gia súc. Tiêm phòng vaccine bất hoạt chủng A, O, C cho heo 2 lần/năm (chủng O có độc lực mạnh nhất). Sau khi tiêm phòng, mức độ kháng thể trung hòa virus đạt cao nhất vào 7-14 ngày, rồi giảm 12 lần và ổn định từ ngày thứ 28-128. Vaccine rất hiệu quả trong việc tạo ra hành lang an toàn giữa vùng dịch và vùng chưa có dịch.

Khi có dịch: Công bố dịch, lập hàng rào kiểm dịch, cách ly điều trị, không vận chuyển và buôn bán, tiêu độc chuồng trại, đốt xác heo bệnh và chết. Việc công bố hết dịch chỉ được tiến hành sau 14 ngày (thời gian ủ bệnh) kể từ khi con heo cuối cùng khỏi bệnh và công tác tiêu độc đã được thực hiện triệt để. Ba tháng sau đó mới được di chuyển heo khỏi bệnh sang vùng không có dịch.

Điều trị

Bệnh không có thuốc trị đặc hiệu. Có thể giảm thiểu thiệt hại trên đàn bằng cách chăm sóc tốt, vệ sinh tiêu độc kỹ, cho heo nghỉ ngơi ở nơi khô thoáng, ăn thức ăn dễ tiêu, uống thêm chất điện giải và glucose.

Rửa kỹ các vết lở loét, mụn nước bằng thuốc chống nhiễm khuẩn cục bộ, nước muối ấm (nồng độ muối 10-20%) hoặc các chất có tính acid (chanh, khế) kết hợp với việc điều trị bằng kháng sinh để tránh phụ nhiễm và điều trị bằng kháng huyết thanh nếu phát hiện bệnh sớm. Nên sử dụng các loại kháng sinh có hiệu lực kéo dài và liệu trình điều trị từ 7-10 ngày.

Có thể chích penicilline và streptomycine trong 3 ngày rồi ngừng chích 2 ngày, sau đó lặp lại thêm 2 lần nữa. Nên kết hợp điều trị kháng sinh với thuốc kháng viêm không thuộc nhóm corticoide (ví dụ: Betamethasone, Dexamethasone có thể gây ức chế quá trình tạo miễn dịch) và thuốc hạ sốt.

Tin mới