Theo đó, trong lúc tra cứu tài liệu ở kho mộc bản triều Nguyễn, nhằm thực hiện chuyên đề "Ngàn năm Thăng Long - Hà Nội", nhóm nhân viên của trung tâm đã phát hiện nguyên văn bản khắc gỗ "Chiếu dời đô" của Vua Lý Thái Tổ hiện đang lưu giữ tại trung tâm.
Theo cán bộ của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, đây là bản khắc chữ Hán ngược, do Vua Lý Công Uẩn soạn từ 1.000 năm về trước, nằm trong bộ sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ở kỷ Lý Thái Tổ, quyển 2, tờ 2 - bản khắc còn lại duy nhất tính đến thời điểm này tại kho mộc bản triều Nguyễn. Bản khắc này có kích thước 41x21,2cm, ghi lại “Chiếu dời đô” với 214 chữ của Vua Lý Công Uẩn.
Bản khắc này ghi rõ: “Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử ôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩn hữu tiện triếp cải... Trẫm dục nhân thử địa dĩ định quyết cư, khanh đắng như hà?”.
Có nghĩa: “Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại, ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi... Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”. Theo các nguồn tài liệu cũ, sau cái tết đầu tiên ở ngôi vua tại kinh thành Hoa Lư, Nhà vua Lý Công Uẩn đã tự tay viết chiếu dời đô (“Thiên đô chiếu”) với nội dung dời kinh đô của nước Đại Cồ Việt từ Hoa Lư (Ninh Bình) về thành Đại La (Hà Nội).
Theo đó, nhiều ý kiến cho rằng chiếu dời đô của Vua Lý Thái Tổ đã thể hiện những ý tư sâu sắc và tầm nhìn thời đại của một vị vua ngàn năm về trước khi chọn Đại La (Thăng Long) làm kinh đô mới để mưu nghiệp lớn, tính kế phồn vinh và trường kỳ cho muôn đời sau. Điều đặc biệt nữa là, bản chiếu đã nêu bật được vai trò của kinh đô Thăng Long – Hà Nội xứng đáng là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của quốc gia. Trong “Đại Việt sử ký tiền biên”, sử gia Ngô Thì Sỹ đã có nhận xét: “Núi là vạt áo che, sông là dải đai thắt, sau lưng là sông nước, trước mặt là biển, địa thế hùng mạnh mà hiếm, rộng mà dài, có thể là nơi vua ở hùng tráng, ngôi báu bền vững, hình thế Đại Việt không nơi nào hơn được nơi này”.
Sau phát hiện và công bố, hiện nay, các cán bộ của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV Đà Lạt đang tiến hành xác định mộc bản nguyên gốc này có từ thời Lê (1679) hay từ thời Nguyễn (1802 – 1807). “Tất nhiên, điều đó có ý nghĩa rất quan trọng về mặt lịch sử; song, vấn đề phát hiện đây là bản khắc duy nhất tính đến thời điểm này là điều rất đáng để chúng ta quan tâm” – một cán bộ trong nhóm nghiên cứu này phát biểu.
Khắc Dũng