Hiện Samsung Việt Nam được đặt tại Khu công nghiệp Yên Phong I, tỉnh Bắc Ninh, là 1 trong 7 nhà máy sản xuất điện thoại di động của Tập đoàn Samsung. Với công suất 60 triệu sản phẩm/năm, tổng vốn đầu tư 670 triệu USD, nhà máy được xếp vào hàng có quy mô lớn nhất hiện nay của Tập đoàn và đang sử dụng tới 32 nhà cung cấp nguyên liệu, linh kiện phụ trợ; trong đó có 15 nhà cung cấp trong nước. Hiện Samsung Việt Nam đang tiến hành sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm mới để thăm dò các thị trường mới. Sau khi được khách hàng dùng thử, chấp nhận, Samsung Việt Nam sẽ nhận đơn đặt hàng và sản xuất hàng loạt.
Trước đó, cũng không ít doanh nghiệp trong nước công bố những kế hoạch sản xuất ĐTDĐ. Khởi xướng cho kế hoạch này đầu tiên phải kể tới dự án sản xuất, lắp ráp ĐTDĐ giá rẻ của liên doanh Công ty VinaMobi Vietnam và Công ty Zentek Technology Singapore được Ban quản lý Khu công nghiệp Hòa Khánh (Liên Chiểu, Đà Nẵng) cấp giấy phép cách đây gần 3 năm. Tuy nhiên, đến năm ngoái, dự án này đã bị thu hồi giấy phép với lý do triển khai quá chậm so với cam kết ban đầu. Tiếp theo là đề án của Công ty cổ phần thiết bị Bưu điện Postef từ năm 2005, song đến nay, chiếc ĐTDĐ thương hiệu Việt đầu tiên của công ty này vẫn chưa ra lò.
Không đi theo hướng sản xuất, nhiều doanh nghiệp khác lại chọn hướng đặt hàng thiết kế và cài đặt phần mềm tiếng Việt. Ba năm trước, Thành Công Mobile đã giới thiệu nhãn hiệu Bavapen ra thị trường, với linh kiện được nhập khẩu của Trung Quốc, Singapore, Hàn Quốc và đặt lắp ráp tại một nhà máy khác. Hãng này cũng cho biết đang xúc tiến dự án sản xuất ĐTDĐ của mình. Sau đó, ABtel cũng công bố nhãn hiệu Q-mobile do công ty này sở hữu thương hiệu và thiết kế thiết bị, được lắp ráp tại Trung Quốc. Thị phần của Q-mobile tăng nhanh, đến nay đã đạt khoảng 10%, khẳng định thành công bước đầu không nhỏ. ConnSpeed của á Mỹ cũng được đặt hàng thiết kế tại Trung Quốc và cài đặt phần mềm tiếng Việt.
Theo ông Lê Duy Long, FPT Mobile, hiện thị trường viễn thông di động của Việt Nam thuộc những nước phát triển nhanh nhất thế giới là tiềm năng lớn của các doanh nghiệp cung cấp điện thoại di động. Hơn nữa, người tiêu dùng cũng thường xuyên thay đổi mẫu mã sản phẩm nên mức độ tiêu thụ vẫn duy trì tăng trưởng 20-30% chứ không có chuyện bão hòa. Việc các doanh nghiệp Việt Nam có giành được cho mình chỗ đứng hay không tùy thuộc rất nhiều yếu tố như tính năng sản phẩm, giá cả, chế độ hậu mãi.
Hiện nay, phân khúc mà các nhãn hiệu nội địa quan tâm là nhóm sản phẩm giá thành thấp. Giá thành bình quân của một chiếc ĐTDĐ hiện đã giảm nhiều 50-60% so với vài năm trước đây do nhiều nhà máy tại Trung Quốc đã hết chi phí khấu hao hệ thống đồng thời quyền sở hữu bản quyền công nghệ mà các hãng giao cho nhà máy cũng đã hết hiệu lực. Tuy nhiên, các nhãn hiệu nội địa vẫn có lợi thế, đó là nếu cùng một chất lượng như nhau nhưng giá các sản phẩm mang thương hiệu nhỏ chỉ bằng một nửa hoặc 2/3 các sản phẩm mang thương hiệu toàn cầu. Nguyên nhân là các chi phí khác như marketing, nghiên cứu... của các thương hiệu trong nước ít hơn nhiều lần. Tuy nhiên, không ít người vẫn lo lắng về chất lượng của những nhãn hiệu điện thoại nhỏ như về độ bền, độ sắc sảo, giá trị chất xám trong những chiếc điện thoại này còn hạn chế cũng là nguyên nhân khiến giá thành thấp.
Một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự tồn tại của các sản phẩm ĐTDĐ nội địa, đó là chế độ hậu mãi. Hiện nay, không ít hãng đã quan tâm đến các chế độ hậu mãi bằng cách tận dụng tối đa hệ thống phân phối và bảo hành sẵn có, bảo hành dài hạn, thậm chí có chế độ “hàng đổi hàng”. Với những lợi thế và khó khăn vậy, liệu ĐTDĐ thương hiệu Việt có tạo nên một diện mạo mới cho ngành viễn thông di động trong nước, thay vì chỉ là nhà phân phối sản phẩm và cung cấp dịch vụ di dộng.