Tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy

eVăn - 16/06/2009 14:43

Tieu thuyet cua cac nha van cap uy

Thường thì mỗi cuộc chiến tranh vệ quốc lại sản sinh ra một thế hệ các “nhà văn trung úy”. Trên thế giới từng có “các nhà văn trung úy” của Liên Xô, của Trung Quốc, và Việt Nam cũng xuất hiện một thế hệ các “nhà văn cấp úy” sau kháng chiến chống Mỹ.

Nhân Kiệt

Vào những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, đất nước mới thống nhất được vài năm, bạn đọc cả nước đã được tiếp nhận một loạt những tiểu thuyết nóng hổi của các nhà văn cấp úy vừa bước ra từ khói lửa chiến tranh, như Mở rừng của đại úy Lê Lựu, Người ở thượng nguồn của thượng úy Nguyễn Bảo, Nắng đồng bằng của thượng úy Chu Lai, Năm 1975, họ đã sống như thế của trung úy Nguyễn Trí Huân, Trong cơn gió lốc của trung úy Khuất Quang Thụy, Người của biển của trung úy Đình Kính, Ngược chiều cái chết của trung úy Trung Trung Đỉnh… Hầu hết nhà văn cấp úy này đều công tác ở các cơ quan văn học nghệ thuật của quân đội. Thời gian thấm thoắt qua nhanh, mới đấy mà họ đều đã thành các đại tá - nhà văn, trở thành những cây bút tiểu thuyết gạo cội của văn học nước nhà, người thì đã nghỉ hưu, người thì đang công tác những năm cuối cùng của cuộc đời quân ngũ.

Thế rồi có một dạo dư luận bùng lên câu hỏi: Liệu Việt Nam có còn các nhà văn cấp úy nữa không? Không ít người nhìn vào tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, nơi nuôi dưỡng rất nhiều thế hệ nhà văn trưởng thành từ môi trường quân đội mà hoài nghi về một đội ngũ kế cận. Bước sang những năm cuối cùng của thập kỷ đầu tiên thuộc thế kỷ 21 này, chúng ta đã lại có thể điểm danh một đội ngũ nhà văn cấp úy mới với những cuốn tiểu thuyết nóng hổi hơi thở đời sống hôm nay. "Nháp" của Nguyễn Đình Tú.

Đầu tiên xin nhắc đến đại úy nhà văn Nguyễn Đình Tú với bộ ba tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện và Nháp. Trong cuộc thi tiểu thuyết của NXB Công An Nhân Dân năm 2002, Nguyễn Đình Tú là tác giả trẻ nhất có tiểu thuyết dự thi và được giải. Nhà văn Nam Hà khi đó trong ban sơ khảo đã nhận xét: “Tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù gây cho tôi một ấn tượng mạnh. Tác giả gióng một tiếng chuông thức tỉnh những mê muội của một bộ phận không nhỏ thanh niên nông thôn muốn nhanh chóng thay đổi cuộc đời không phải bằng con đường lao động chân chính. Cách viết của Nguyễn Đình Tú rất mới. Mỗi chương là một diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật. Tác giả lý giải khéo léo con đường dẫn đến bi kịch của từng cá nhân trong hỗn tạp những cạm bẫy của xã hội hiện đại”.

Còn nhà văn Ma Văn Kháng, chánh chủ khảo cuộc thi đó, khi nói về tiểu thuyết này đã đánh giá: “Ở đây, cái ác được truy đuổi cấp tập, kiệt cùng qua sự tự thú của lương tâm. Ở đây cái ác được hiểu như là khoảng tối tăm phản trắc trong con người, giống như một nghiệp chướng ám ảnh, là cái mặt bên kia của sự phân thân, trong quá trình tha hóa, được hóa giải như một hiện tượng bệnh lý của con người, của xã hội...”. Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay về đề tài tội phạm hình sự, Nguyễn Đình Tú liên tiếp xuất bản 2 tiểu thuyết nữa, một khai thác đề tài chiến tranh - Bên dòng Sầu Diện, một khai thác những ẩn ức tính dục của thế hệ trẻ trong thời kỳ hội nhập - Nháp. Cả ba cuốn tiểu thuyết này đều gây được những dư luận nhất định trong giới viết và bạn đọc. Hồ sơ một tử tù còn được dựng thành phim, Nháp thì liên tục nối bản đến 3 lần trong vòng 6 tháng cuối năm 2008.

"Bóng của cây sồi" - Đỗ Bích Thúy. Nữ đại úy nhà văn Đỗ Bích Thúy sau thành công vang dội với thể loại truyện ngắn (giải nhất Văn Nghệ Quân Đội năm 1999), đã trình làng tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Bóng của cây sồi, và lại giành giải thưởng trong cuộc thi Sáng tác cho tuổi trẻ của NXB Thanh Niên năm 2005. Vẫn là đề tài miền núi với những đổi thay do tác động của đời sống hôm nay, nhưng ở tiểu thuyết này không gian, thời gian như dài rộng hơn, con người có da có thịt, nổi hình nổi khối hơn. Khi viết về Bóng của cây sồi, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đánh giá: “Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả thiên nhiên và đời sống của miền đất cực Bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm nổi trội của tiểu thuyết này”.

Tiểu thuyết "Màu rừng ruộng" của Đỗ Tiến Thụy.

Đại úy Đỗ Tiến Thụy đã lấy tiểu thuyết đầu tay của mình, Màu rừng ruộng, làm tác phẩm tốt nghiệp trước khi anh rời Khoa sáng tác lý luận phê bình (Đại học Văn hóa Hà Nội) về nhận công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tác phẩm này đã được NXB Trẻ phát hành ngay sau đó và gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Nhà văn Lê Hoài Lương đã có những phát hiện lý thú khi đọc Màu rừng ruộng như sau: “Cuốn sách có 2 phần, Nghé hoa và Khu rừng say, tách bạch hai bối cảnh ruộng và rừng, mỗi phần có nhiều chương được đặt tên, bao giờ cũng kèm theo một sắc màu, chẳng hạn: Gió vàng, Trâu đỏ, Đất trắng, Ngựa bạc, Ning nơng tím. Mắt lơ, Xương rêu, Nghé nâu..., nói chung là những sắc màu trong thiên nhiên, về hình thức có vẻ hợp với tên tiểu thuyết. Một kiểu chơi chữ cố ý khiến chủ đề đầy tính đột phá nhưng ẩn khá kín… Đỗ Tiến Thụy không tìm cách tân kỳ thi pháp, chỉ dựa vào khả năng tinh tế trong quan sát, chiêm nghiệm. Kiến thức và vốn sống là chỗ dựa căn bản cho những tìm tòi về chủ đề, về các ý tưởng nghệ thuật. Màu rừng ruộng là khởi đầu cho độ trường lực rất đáng trông chờ ở nhà văn này”. Cuốn "Biển xanh màu lá".

Đầu năm 2008 thiếu úy Nguyễn Xuân Thủy gây ngạc nhiên cho bạn đọc bằng cuốn tiểu thuyết có tựa đề Biển xanh màu lá. Ngạc nhiên vì đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên lấy Trường Sa làm bối cảnh chính của tác phẩm. Đúng thời điểm Biển xanh màu lá ra đời cũng là lúc tác giả của nó có chuyến quay trở lại Trường Sa, nơi anh từng công tác gần chục năm về trước. Anh đã dùng toàn bộ số tiền nhuận bút ít ỏi của mình để mua sách mang theo tàu ra đảo. Cuốn sách đã ngay lập tức được cán bộ chiến sĩ ngoài đảo hồ hởi đón nhận bởi lần đầu tiên những người lính nơi đầu sóng ngọn gió này được một nhà văn cấp úy hình tượng hóa thành những nhân vật tiểu thuyết.

Đánh giá về nghệ thuật của cuốn sách này, nhà phê bình Đoàn Minh Tâm cho rằng: “Thời gian nghệ thuật trong Biển xanh màu lá là thời gian tuyến tính, được triển khai theo một vòng tuần hoàn khép kín với chu trình của biển: tĩnh - động - tĩnh. Vòng tuần hoàn này đã giúp Nguyễn Xuân Thủy tạo nên một lát cắt về cuộc sống người lính Trường Sa với đủ đầy các cung bậc, sắc thái, theo nhịp hô ứng của biển cả. Mùa biển động mọi chuyện vui vẻ, êm chèo mát mái, mùa biển động là bao nhiêu diễn biến xảy ra, toàn những biến động dữ dội trong cuộc đời của mỗi con người. Mặt khác, nhằm tạo nên sự đa dạng trong cách miêu tả, Nguyễn Xuân Thủy chủ động thay đổi điểm nhìn một cách linh hoạt. Bên cạnh đó là sự song hành và hoán đổi lẫn nhau liên tục giữa cái hài và cái bi tạo nên chất kết dính trong tác phẩm. Những điểm này tạo cho chúng ta cảm giác Biển xanh màu lá như một khối hình học đa cạnh (do sự thay đổi điểm nhìn mang lại), gắn kết chặt chẽ cùng nhau (bởi cái hài và cái bi) được xoay một cách tuần tự cho độc giả lần lượt thưởng thức hết các mặt (do kết cấu thời gian nghệ thuật mang lại) để từ đó có cái nhìn đa diện về người lính đảo”.

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Thế rồi có một dạo dư luận bùng lên câu hỏi: Liệu Việt Nam có còn các nhà văn cấp úy nữa không? Không ít người nhìn vào tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, nơi nuôi dưỡng rất nhiều thế hệ nhà văn trưởng thành từ môi trường quân đội mà hoài nghi về một đội ngũ kế cận. Bước sang những năm cuối cùng của thập kỷ đầu tiên thuộc thế kỷ 21 này, chúng ta đã lại có thể điểm danh một đội ngũ nhà văn cấp úy mới với những cuốn tiểu thuyết nóng hổi hơi thở đời sống hôm nay. "Nháp" của Nguyễn Đình Tú.

Đầu tiên xin nhắc đến đại úy nhà văn Nguyễn Đình Tú với bộ ba tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện và Nháp. Trong cuộc thi tiểu thuyết của NXB Công An Nhân Dân năm 2002, Nguyễn Đình Tú là tác giả trẻ nhất có tiểu thuyết dự thi và được giải. Nhà văn Nam Hà khi đó trong ban sơ khảo đã nhận xét: “Tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù gây cho tôi một ấn tượng mạnh. Tác giả gióng một tiếng chuông thức tỉnh những mê muội của một bộ phận không nhỏ thanh niên nông thôn muốn nhanh chóng thay đổi cuộc đời không phải bằng con đường lao động chân chính. Cách viết của Nguyễn Đình Tú rất mới. Mỗi chương là một diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật. Tác giả lý giải khéo léo con đường dẫn đến bi kịch của từng cá nhân trong hỗn tạp những cạm bẫy của xã hội hiện đại”.

Còn nhà văn Ma Văn Kháng, chánh chủ khảo cuộc thi đó, khi nói về tiểu thuyết này đã đánh giá: “Ở đây, cái ác được truy đuổi cấp tập, kiệt cùng qua sự tự thú của lương tâm. Ở đây cái ác được hiểu như là khoảng tối tăm phản trắc trong con người, giống như một nghiệp chướng ám ảnh, là cái mặt bên kia của sự phân thân, trong quá trình tha hóa, được hóa giải như một hiện tượng bệnh lý của con người, của xã hội...”. Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay về đề tài tội phạm hình sự, Nguyễn Đình Tú liên tiếp xuất bản 2 tiểu thuyết nữa, một khai thác đề tài chiến tranh - Bên dòng Sầu Diện, một khai thác những ẩn ức tính dục của thế hệ trẻ trong thời kỳ hội nhập - Nháp. Cả ba cuốn tiểu thuyết này đều gây được những dư luận nhất định trong giới viết và bạn đọc. Hồ sơ một tử tù còn được dựng thành phim, Nháp thì liên tục nối bản đến 3 lần trong vòng 6 tháng cuối năm 2008.

"Bóng của cây sồi" - Đỗ Bích Thúy. Nữ đại úy nhà văn Đỗ Bích Thúy sau thành công vang dội với thể loại truyện ngắn (giải nhất Văn Nghệ Quân Đội năm 1999), đã trình làng tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Bóng của cây sồi, và lại giành giải thưởng trong cuộc thi Sáng tác cho tuổi trẻ của NXB Thanh Niên năm 2005. Vẫn là đề tài miền núi với những đổi thay do tác động của đời sống hôm nay, nhưng ở tiểu thuyết này không gian, thời gian như dài rộng hơn, con người có da có thịt, nổi hình nổi khối hơn. Khi viết về Bóng của cây sồi, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đánh giá: “Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả thiên nhiên và đời sống của miền đất cực Bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm nổi trội của tiểu thuyết này”.

Tiểu thuyết "Màu rừng ruộng" của Đỗ Tiến Thụy.

Đại úy Đỗ Tiến Thụy đã lấy tiểu thuyết đầu tay của mình, Màu rừng ruộng, làm tác phẩm tốt nghiệp trước khi anh rời Khoa sáng tác lý luận phê bình (Đại học Văn hóa Hà Nội) về nhận công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tác phẩm này đã được NXB Trẻ phát hành ngay sau đó và gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Nhà văn Lê Hoài Lương đã có những phát hiện lý thú khi đọc Màu rừng ruộng như sau: “Cuốn sách có 2 phần, Nghé hoa và Khu rừng say, tách bạch hai bối cảnh ruộng và rừng, mỗi phần có nhiều chương được đặt tên, bao giờ cũng kèm theo một sắc màu, chẳng hạn: Gió vàng, Trâu đỏ, Đất trắng, Ngựa bạc, Ning nơng tím. Mắt lơ, Xương rêu, Nghé nâu..., nói chung là những sắc màu trong thiên nhiên, về hình thức có vẻ hợp với tên tiểu thuyết. Một kiểu chơi chữ cố ý khiến chủ đề đầy tính đột phá nhưng ẩn khá kín… Đỗ Tiến Thụy không tìm cách tân kỳ thi pháp, chỉ dựa vào khả năng tinh tế trong quan sát, chiêm nghiệm. Kiến thức và vốn sống là chỗ dựa căn bản cho những tìm tòi về chủ đề, về các ý tưởng nghệ thuật. Màu rừng ruộng là khởi đầu cho độ trường lực rất đáng trông chờ ở nhà văn này”. Cuốn "Biển xanh màu lá".

Đầu năm 2008 thiếu úy Nguyễn Xuân Thủy gây ngạc nhiên cho bạn đọc bằng cuốn tiểu thuyết có tựa đề Biển xanh màu lá. Ngạc nhiên vì đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên lấy Trường Sa làm bối cảnh chính của tác phẩm. Đúng thời điểm Biển xanh màu lá ra đời cũng là lúc tác giả của nó có chuyến quay trở lại Trường Sa, nơi anh từng công tác gần chục năm về trước. Anh đã dùng toàn bộ số tiền nhuận bút ít ỏi của mình để mua sách mang theo tàu ra đảo. Cuốn sách đã ngay lập tức được cán bộ chiến sĩ ngoài đảo hồ hởi đón nhận bởi lần đầu tiên những người lính nơi đầu sóng ngọn gió này được một nhà văn cấp úy hình tượng hóa thành những nhân vật tiểu thuyết.

Đánh giá về nghệ thuật của cuốn sách này, nhà phê bình Đoàn Minh Tâm cho rằng: “Thời gian nghệ thuật trong Biển xanh màu lá là thời gian tuyến tính, được triển khai theo một vòng tuần hoàn khép kín với chu trình của biển: tĩnh - động - tĩnh. Vòng tuần hoàn này đã giúp Nguyễn Xuân Thủy tạo nên một lát cắt về cuộc sống người lính Trường Sa với đủ đầy các cung bậc, sắc thái, theo nhịp hô ứng của biển cả. Mùa biển động mọi chuyện vui vẻ, êm chèo mát mái, mùa biển động là bao nhiêu diễn biến xảy ra, toàn những biến động dữ dội trong cuộc đời của mỗi con người. Mặt khác, nhằm tạo nên sự đa dạng trong cách miêu tả, Nguyễn Xuân Thủy chủ động thay đổi điểm nhìn một cách linh hoạt. Bên cạnh đó là sự song hành và hoán đổi lẫn nhau liên tục giữa cái hài và cái bi tạo nên chất kết dính trong tác phẩm. Những điểm này tạo cho chúng ta cảm giác Biển xanh màu lá như một khối hình học đa cạnh (do sự thay đổi điểm nhìn mang lại), gắn kết chặt chẽ cùng nhau (bởi cái hài và cái bi) được xoay một cách tuần tự cho độc giả lần lượt thưởng thức hết các mặt (do kết cấu thời gian nghệ thuật mang lại) để từ đó có cái nhìn đa diện về người lính đảo”.

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Đầu tiên xin nhắc đến đại úy nhà văn Nguyễn Đình Tú với bộ ba tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện và Nháp. Trong cuộc thi tiểu thuyết của NXB Công An Nhân Dân năm 2002, Nguyễn Đình Tú là tác giả trẻ nhất có tiểu thuyết dự thi và được giải. Nhà văn Nam Hà khi đó trong ban sơ khảo đã nhận xét: “Tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù gây cho tôi một ấn tượng mạnh. Tác giả gióng một tiếng chuông thức tỉnh những mê muội của một bộ phận không nhỏ thanh niên nông thôn muốn nhanh chóng thay đổi cuộc đời không phải bằng con đường lao động chân chính. Cách viết của Nguyễn Đình Tú rất mới. Mỗi chương là một diễn biến tâm lý phức tạp của nhân vật. Tác giả lý giải khéo léo con đường dẫn đến bi kịch của từng cá nhân trong hỗn tạp những cạm bẫy của xã hội hiện đại”.

Còn nhà văn Ma Văn Kháng, chánh chủ khảo cuộc thi đó, khi nói về tiểu thuyết này đã đánh giá: “Ở đây, cái ác được truy đuổi cấp tập, kiệt cùng qua sự tự thú của lương tâm. Ở đây cái ác được hiểu như là khoảng tối tăm phản trắc trong con người, giống như một nghiệp chướng ám ảnh, là cái mặt bên kia của sự phân thân, trong quá trình tha hóa, được hóa giải như một hiện tượng bệnh lý của con người, của xã hội...”. Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay về đề tài tội phạm hình sự, Nguyễn Đình Tú liên tiếp xuất bản 2 tiểu thuyết nữa, một khai thác đề tài chiến tranh - Bên dòng Sầu Diện, một khai thác những ẩn ức tính dục của thế hệ trẻ trong thời kỳ hội nhập - Nháp. Cả ba cuốn tiểu thuyết này đều gây được những dư luận nhất định trong giới viết và bạn đọc. Hồ sơ một tử tù còn được dựng thành phim, Nháp thì liên tục nối bản đến 3 lần trong vòng 6 tháng cuối năm 2008.

"Bóng của cây sồi" - Đỗ Bích Thúy. Nữ đại úy nhà văn Đỗ Bích Thúy sau thành công vang dội với thể loại truyện ngắn (giải nhất Văn Nghệ Quân Đội năm 1999), đã trình làng tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Bóng của cây sồi, và lại giành giải thưởng trong cuộc thi Sáng tác cho tuổi trẻ của NXB Thanh Niên năm 2005. Vẫn là đề tài miền núi với những đổi thay do tác động của đời sống hôm nay, nhưng ở tiểu thuyết này không gian, thời gian như dài rộng hơn, con người có da có thịt, nổi hình nổi khối hơn. Khi viết về Bóng của cây sồi, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đánh giá: “Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả thiên nhiên và đời sống của miền đất cực Bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm nổi trội của tiểu thuyết này”.

Tiểu thuyết "Màu rừng ruộng" của Đỗ Tiến Thụy.

Đại úy Đỗ Tiến Thụy đã lấy tiểu thuyết đầu tay của mình, Màu rừng ruộng, làm tác phẩm tốt nghiệp trước khi anh rời Khoa sáng tác lý luận phê bình (Đại học Văn hóa Hà Nội) về nhận công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tác phẩm này đã được NXB Trẻ phát hành ngay sau đó và gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Nhà văn Lê Hoài Lương đã có những phát hiện lý thú khi đọc Màu rừng ruộng như sau: “Cuốn sách có 2 phần, Nghé hoa và Khu rừng say, tách bạch hai bối cảnh ruộng và rừng, mỗi phần có nhiều chương được đặt tên, bao giờ cũng kèm theo một sắc màu, chẳng hạn: Gió vàng, Trâu đỏ, Đất trắng, Ngựa bạc, Ning nơng tím. Mắt lơ, Xương rêu, Nghé nâu..., nói chung là những sắc màu trong thiên nhiên, về hình thức có vẻ hợp với tên tiểu thuyết. Một kiểu chơi chữ cố ý khiến chủ đề đầy tính đột phá nhưng ẩn khá kín… Đỗ Tiến Thụy không tìm cách tân kỳ thi pháp, chỉ dựa vào khả năng tinh tế trong quan sát, chiêm nghiệm. Kiến thức và vốn sống là chỗ dựa căn bản cho những tìm tòi về chủ đề, về các ý tưởng nghệ thuật. Màu rừng ruộng là khởi đầu cho độ trường lực rất đáng trông chờ ở nhà văn này”. Cuốn "Biển xanh màu lá".

Đầu năm 2008 thiếu úy Nguyễn Xuân Thủy gây ngạc nhiên cho bạn đọc bằng cuốn tiểu thuyết có tựa đề Biển xanh màu lá. Ngạc nhiên vì đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên lấy Trường Sa làm bối cảnh chính của tác phẩm. Đúng thời điểm Biển xanh màu lá ra đời cũng là lúc tác giả của nó có chuyến quay trở lại Trường Sa, nơi anh từng công tác gần chục năm về trước. Anh đã dùng toàn bộ số tiền nhuận bút ít ỏi của mình để mua sách mang theo tàu ra đảo. Cuốn sách đã ngay lập tức được cán bộ chiến sĩ ngoài đảo hồ hởi đón nhận bởi lần đầu tiên những người lính nơi đầu sóng ngọn gió này được một nhà văn cấp úy hình tượng hóa thành những nhân vật tiểu thuyết.

Đánh giá về nghệ thuật của cuốn sách này, nhà phê bình Đoàn Minh Tâm cho rằng: “Thời gian nghệ thuật trong Biển xanh màu lá là thời gian tuyến tính, được triển khai theo một vòng tuần hoàn khép kín với chu trình của biển: tĩnh - động - tĩnh. Vòng tuần hoàn này đã giúp Nguyễn Xuân Thủy tạo nên một lát cắt về cuộc sống người lính Trường Sa với đủ đầy các cung bậc, sắc thái, theo nhịp hô ứng của biển cả. Mùa biển động mọi chuyện vui vẻ, êm chèo mát mái, mùa biển động là bao nhiêu diễn biến xảy ra, toàn những biến động dữ dội trong cuộc đời của mỗi con người. Mặt khác, nhằm tạo nên sự đa dạng trong cách miêu tả, Nguyễn Xuân Thủy chủ động thay đổi điểm nhìn một cách linh hoạt. Bên cạnh đó là sự song hành và hoán đổi lẫn nhau liên tục giữa cái hài và cái bi tạo nên chất kết dính trong tác phẩm. Những điểm này tạo cho chúng ta cảm giác Biển xanh màu lá như một khối hình học đa cạnh (do sự thay đổi điểm nhìn mang lại), gắn kết chặt chẽ cùng nhau (bởi cái hài và cái bi) được xoay một cách tuần tự cho độc giả lần lượt thưởng thức hết các mặt (do kết cấu thời gian nghệ thuật mang lại) để từ đó có cái nhìn đa diện về người lính đảo”.

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Còn nhà văn Ma Văn Kháng, chánh chủ khảo cuộc thi đó, khi nói về tiểu thuyết này đã đánh giá: “Ở đây, cái ác được truy đuổi cấp tập, kiệt cùng qua sự tự thú của lương tâm. Ở đây cái ác được hiểu như là khoảng tối tăm phản trắc trong con người, giống như một nghiệp chướng ám ảnh, là cái mặt bên kia của sự phân thân, trong quá trình tha hóa, được hóa giải như một hiện tượng bệnh lý của con người, của xã hội...”. Sau cuốn tiểu thuyết đầu tay về đề tài tội phạm hình sự, Nguyễn Đình Tú liên tiếp xuất bản 2 tiểu thuyết nữa, một khai thác đề tài chiến tranh - Bên dòng Sầu Diện, một khai thác những ẩn ức tính dục của thế hệ trẻ trong thời kỳ hội nhập - Nháp. Cả ba cuốn tiểu thuyết này đều gây được những dư luận nhất định trong giới viết và bạn đọc. Hồ sơ một tử tù còn được dựng thành phim, Nháp thì liên tục nối bản đến 3 lần trong vòng 6 tháng cuối năm 2008.

"Bóng của cây sồi" - Đỗ Bích Thúy. Nữ đại úy nhà văn Đỗ Bích Thúy sau thành công vang dội với thể loại truyện ngắn (giải nhất Văn Nghệ Quân Đội năm 1999), đã trình làng tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Bóng của cây sồi, và lại giành giải thưởng trong cuộc thi Sáng tác cho tuổi trẻ của NXB Thanh Niên năm 2005. Vẫn là đề tài miền núi với những đổi thay do tác động của đời sống hôm nay, nhưng ở tiểu thuyết này không gian, thời gian như dài rộng hơn, con người có da có thịt, nổi hình nổi khối hơn. Khi viết về Bóng của cây sồi, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đánh giá: “Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả thiên nhiên và đời sống của miền đất cực Bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm nổi trội của tiểu thuyết này”.

Tiểu thuyết "Màu rừng ruộng" của Đỗ Tiến Thụy.

Đại úy Đỗ Tiến Thụy đã lấy tiểu thuyết đầu tay của mình, Màu rừng ruộng, làm tác phẩm tốt nghiệp trước khi anh rời Khoa sáng tác lý luận phê bình (Đại học Văn hóa Hà Nội) về nhận công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tác phẩm này đã được NXB Trẻ phát hành ngay sau đó và gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Nhà văn Lê Hoài Lương đã có những phát hiện lý thú khi đọc Màu rừng ruộng như sau: “Cuốn sách có 2 phần, Nghé hoa và Khu rừng say, tách bạch hai bối cảnh ruộng và rừng, mỗi phần có nhiều chương được đặt tên, bao giờ cũng kèm theo một sắc màu, chẳng hạn: Gió vàng, Trâu đỏ, Đất trắng, Ngựa bạc, Ning nơng tím. Mắt lơ, Xương rêu, Nghé nâu..., nói chung là những sắc màu trong thiên nhiên, về hình thức có vẻ hợp với tên tiểu thuyết. Một kiểu chơi chữ cố ý khiến chủ đề đầy tính đột phá nhưng ẩn khá kín… Đỗ Tiến Thụy không tìm cách tân kỳ thi pháp, chỉ dựa vào khả năng tinh tế trong quan sát, chiêm nghiệm. Kiến thức và vốn sống là chỗ dựa căn bản cho những tìm tòi về chủ đề, về các ý tưởng nghệ thuật. Màu rừng ruộng là khởi đầu cho độ trường lực rất đáng trông chờ ở nhà văn này”. Cuốn "Biển xanh màu lá".

Đầu năm 2008 thiếu úy Nguyễn Xuân Thủy gây ngạc nhiên cho bạn đọc bằng cuốn tiểu thuyết có tựa đề Biển xanh màu lá. Ngạc nhiên vì đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên lấy Trường Sa làm bối cảnh chính của tác phẩm. Đúng thời điểm Biển xanh màu lá ra đời cũng là lúc tác giả của nó có chuyến quay trở lại Trường Sa, nơi anh từng công tác gần chục năm về trước. Anh đã dùng toàn bộ số tiền nhuận bút ít ỏi của mình để mua sách mang theo tàu ra đảo. Cuốn sách đã ngay lập tức được cán bộ chiến sĩ ngoài đảo hồ hởi đón nhận bởi lần đầu tiên những người lính nơi đầu sóng ngọn gió này được một nhà văn cấp úy hình tượng hóa thành những nhân vật tiểu thuyết.

Đánh giá về nghệ thuật của cuốn sách này, nhà phê bình Đoàn Minh Tâm cho rằng: “Thời gian nghệ thuật trong Biển xanh màu lá là thời gian tuyến tính, được triển khai theo một vòng tuần hoàn khép kín với chu trình của biển: tĩnh - động - tĩnh. Vòng tuần hoàn này đã giúp Nguyễn Xuân Thủy tạo nên một lát cắt về cuộc sống người lính Trường Sa với đủ đầy các cung bậc, sắc thái, theo nhịp hô ứng của biển cả. Mùa biển động mọi chuyện vui vẻ, êm chèo mát mái, mùa biển động là bao nhiêu diễn biến xảy ra, toàn những biến động dữ dội trong cuộc đời của mỗi con người. Mặt khác, nhằm tạo nên sự đa dạng trong cách miêu tả, Nguyễn Xuân Thủy chủ động thay đổi điểm nhìn một cách linh hoạt. Bên cạnh đó là sự song hành và hoán đổi lẫn nhau liên tục giữa cái hài và cái bi tạo nên chất kết dính trong tác phẩm. Những điểm này tạo cho chúng ta cảm giác Biển xanh màu lá như một khối hình học đa cạnh (do sự thay đổi điểm nhìn mang lại), gắn kết chặt chẽ cùng nhau (bởi cái hài và cái bi) được xoay một cách tuần tự cho độc giả lần lượt thưởng thức hết các mặt (do kết cấu thời gian nghệ thuật mang lại) để từ đó có cái nhìn đa diện về người lính đảo”.

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

"Bóng của cây sồi" - Đỗ Bích Thúy. Nữ đại úy nhà văn Đỗ Bích Thúy sau thành công vang dội với thể loại truyện ngắn (giải nhất Văn Nghệ Quân Đội năm 1999), đã trình làng tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Bóng của cây sồi, và lại giành giải thưởng trong cuộc thi Sáng tác cho tuổi trẻ của NXB Thanh Niên năm 2005. Vẫn là đề tài miền núi với những đổi thay do tác động của đời sống hôm nay, nhưng ở tiểu thuyết này không gian, thời gian như dài rộng hơn, con người có da có thịt, nổi hình nổi khối hơn. Khi viết về Bóng của cây sồi, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đánh giá: “Tính xã hội, tính nhân văn, lòng trắc ẩn và khao khát của nhà văn đã được gửi gắm vào từng trang viết. Nó đã được nói qua nhân vật, qua giọng kể không mới lạ nhưng đằm lắng và nhiều cảm xúc của Đỗ Bích Thúy. Hiện tại, quá khứ, chuyện mới, chuyện cũ đan xen, cài quấn nhau như dòng chảy của cuộc sống muôn đời nay tiếp nối, tiếp nối không dứt. Lối dẫn chuyện tự nhiên và không gò bó, cách miêu tả thiên nhiên và đời sống của miền đất cực Bắc đất nước khá sinh động là ưu điểm nổi trội của tiểu thuyết này”.

Đại úy Đỗ Tiến Thụy đã lấy tiểu thuyết đầu tay của mình, Màu rừng ruộng, làm tác phẩm tốt nghiệp trước khi anh rời Khoa sáng tác lý luận phê bình (Đại học Văn hóa Hà Nội) về nhận công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội. Tác phẩm này đã được NXB Trẻ phát hành ngay sau đó và gây được sự chú ý của đông đảo bạn đọc. Nhà văn Lê Hoài Lương đã có những phát hiện lý thú khi đọc Màu rừng ruộng như sau: “Cuốn sách có 2 phần, Nghé hoa và Khu rừng say, tách bạch hai bối cảnh ruộng và rừng, mỗi phần có nhiều chương được đặt tên, bao giờ cũng kèm theo một sắc màu, chẳng hạn: Gió vàng, Trâu đỏ, Đất trắng, Ngựa bạc, Ning nơng tím. Mắt lơ, Xương rêu, Nghé nâu..., nói chung là những sắc màu trong thiên nhiên, về hình thức có vẻ hợp với tên tiểu thuyết. Một kiểu chơi chữ cố ý khiến chủ đề đầy tính đột phá nhưng ẩn khá kín… Đỗ Tiến Thụy không tìm cách tân kỳ thi pháp, chỉ dựa vào khả năng tinh tế trong quan sát, chiêm nghiệm. Kiến thức và vốn sống là chỗ dựa căn bản cho những tìm tòi về chủ đề, về các ý tưởng nghệ thuật. Màu rừng ruộng là khởi đầu cho độ trường lực rất đáng trông chờ ở nhà văn này”. Cuốn "Biển xanh màu lá".

Đầu năm 2008 thiếu úy Nguyễn Xuân Thủy gây ngạc nhiên cho bạn đọc bằng cuốn tiểu thuyết có tựa đề Biển xanh màu lá. Ngạc nhiên vì đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên lấy Trường Sa làm bối cảnh chính của tác phẩm. Đúng thời điểm Biển xanh màu lá ra đời cũng là lúc tác giả của nó có chuyến quay trở lại Trường Sa, nơi anh từng công tác gần chục năm về trước. Anh đã dùng toàn bộ số tiền nhuận bút ít ỏi của mình để mua sách mang theo tàu ra đảo. Cuốn sách đã ngay lập tức được cán bộ chiến sĩ ngoài đảo hồ hởi đón nhận bởi lần đầu tiên những người lính nơi đầu sóng ngọn gió này được một nhà văn cấp úy hình tượng hóa thành những nhân vật tiểu thuyết.

Đánh giá về nghệ thuật của cuốn sách này, nhà phê bình Đoàn Minh Tâm cho rằng: “Thời gian nghệ thuật trong Biển xanh màu lá là thời gian tuyến tính, được triển khai theo một vòng tuần hoàn khép kín với chu trình của biển: tĩnh - động - tĩnh. Vòng tuần hoàn này đã giúp Nguyễn Xuân Thủy tạo nên một lát cắt về cuộc sống người lính Trường Sa với đủ đầy các cung bậc, sắc thái, theo nhịp hô ứng của biển cả. Mùa biển động mọi chuyện vui vẻ, êm chèo mát mái, mùa biển động là bao nhiêu diễn biến xảy ra, toàn những biến động dữ dội trong cuộc đời của mỗi con người. Mặt khác, nhằm tạo nên sự đa dạng trong cách miêu tả, Nguyễn Xuân Thủy chủ động thay đổi điểm nhìn một cách linh hoạt. Bên cạnh đó là sự song hành và hoán đổi lẫn nhau liên tục giữa cái hài và cái bi tạo nên chất kết dính trong tác phẩm. Những điểm này tạo cho chúng ta cảm giác Biển xanh màu lá như một khối hình học đa cạnh (do sự thay đổi điểm nhìn mang lại), gắn kết chặt chẽ cùng nhau (bởi cái hài và cái bi) được xoay một cách tuần tự cho độc giả lần lượt thưởng thức hết các mặt (do kết cấu thời gian nghệ thuật mang lại) để từ đó có cái nhìn đa diện về người lính đảo”.

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Đầu năm 2008 thiếu úy Nguyễn Xuân Thủy gây ngạc nhiên cho bạn đọc bằng cuốn tiểu thuyết có tựa đề Biển xanh màu lá. Ngạc nhiên vì đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên lấy Trường Sa làm bối cảnh chính của tác phẩm. Đúng thời điểm Biển xanh màu lá ra đời cũng là lúc tác giả của nó có chuyến quay trở lại Trường Sa, nơi anh từng công tác gần chục năm về trước. Anh đã dùng toàn bộ số tiền nhuận bút ít ỏi của mình để mua sách mang theo tàu ra đảo. Cuốn sách đã ngay lập tức được cán bộ chiến sĩ ngoài đảo hồ hởi đón nhận bởi lần đầu tiên những người lính nơi đầu sóng ngọn gió này được một nhà văn cấp úy hình tượng hóa thành những nhân vật tiểu thuyết.

Đánh giá về nghệ thuật của cuốn sách này, nhà phê bình Đoàn Minh Tâm cho rằng: “Thời gian nghệ thuật trong Biển xanh màu lá là thời gian tuyến tính, được triển khai theo một vòng tuần hoàn khép kín với chu trình của biển: tĩnh - động - tĩnh. Vòng tuần hoàn này đã giúp Nguyễn Xuân Thủy tạo nên một lát cắt về cuộc sống người lính Trường Sa với đủ đầy các cung bậc, sắc thái, theo nhịp hô ứng của biển cả. Mùa biển động mọi chuyện vui vẻ, êm chèo mát mái, mùa biển động là bao nhiêu diễn biến xảy ra, toàn những biến động dữ dội trong cuộc đời của mỗi con người. Mặt khác, nhằm tạo nên sự đa dạng trong cách miêu tả, Nguyễn Xuân Thủy chủ động thay đổi điểm nhìn một cách linh hoạt. Bên cạnh đó là sự song hành và hoán đổi lẫn nhau liên tục giữa cái hài và cái bi tạo nên chất kết dính trong tác phẩm. Những điểm này tạo cho chúng ta cảm giác Biển xanh màu lá như một khối hình học đa cạnh (do sự thay đổi điểm nhìn mang lại), gắn kết chặt chẽ cùng nhau (bởi cái hài và cái bi) được xoay một cách tuần tự cho độc giả lần lượt thưởng thức hết các mặt (do kết cấu thời gian nghệ thuật mang lại) để từ đó có cái nhìn đa diện về người lính đảo”.

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Đánh giá về nghệ thuật của cuốn sách này, nhà phê bình Đoàn Minh Tâm cho rằng: “Thời gian nghệ thuật trong Biển xanh màu lá là thời gian tuyến tính, được triển khai theo một vòng tuần hoàn khép kín với chu trình của biển: tĩnh - động - tĩnh. Vòng tuần hoàn này đã giúp Nguyễn Xuân Thủy tạo nên một lát cắt về cuộc sống người lính Trường Sa với đủ đầy các cung bậc, sắc thái, theo nhịp hô ứng của biển cả. Mùa biển động mọi chuyện vui vẻ, êm chèo mát mái, mùa biển động là bao nhiêu diễn biến xảy ra, toàn những biến động dữ dội trong cuộc đời của mỗi con người. Mặt khác, nhằm tạo nên sự đa dạng trong cách miêu tả, Nguyễn Xuân Thủy chủ động thay đổi điểm nhìn một cách linh hoạt. Bên cạnh đó là sự song hành và hoán đổi lẫn nhau liên tục giữa cái hài và cái bi tạo nên chất kết dính trong tác phẩm. Những điểm này tạo cho chúng ta cảm giác Biển xanh màu lá như một khối hình học đa cạnh (do sự thay đổi điểm nhìn mang lại), gắn kết chặt chẽ cùng nhau (bởi cái hài và cái bi) được xoay một cách tuần tự cho độc giả lần lượt thưởng thức hết các mặt (do kết cấu thời gian nghệ thuật mang lại) để từ đó có cái nhìn đa diện về người lính đảo”.

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Tiểu thuyết "Hư thực" của Phùng Văn Khai. Cũng trong năm 2008 trung úy nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản tiểu thuyết đầu tay với tên gọi Hư thực. Nhà văn Dương Hướng từ vùng mỏ Quảng Ninh sau khi đọc Hư thực đã dành cho tác phẩm này rất nhiều thiện cảm: “Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết Hư thực, tác giả sáng tác dành riêng cho giới văn sĩ chúng ta. Đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó giống như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ mình bằng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng”.

Đầu năm 2009 thượng úy Nguyễn Thế Hùng trình làng cuốn tiểu thuyết Họ vẫn chưa về viết về đất và người Hà Tĩnh hôm qua và hôm nay. Nhận xét về sự khởi đầu bằng thể loại tiểu thuyết của tác giả này, nhà văn Khuất Quang Thụy cho rằng: “Đọc xong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về tôi cứ nghĩ Nguyễn Thế Hùng cũng xứng đáng là người thợ bắt đầu trong văn chương. Anh đã chững chạc, vững chãi và trưởng thành ngay lần ra quân đầu tiên với thể loại tiểu thuyết”. Còn nhà văn Hồ Anh Thái đã đánh giá những điều nêu trong tiểu thuyết Họ vẫn chưa về là những cái bình thường đã trở nên khác thường, lạ lùng và cuốn hút.

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Còn có thể kể đến thượng úy Trung Phương với tiểu thuyết Sóng trên núi, đại úy Quỳnh Linh với tiểu thuyết Tâm đen và tác phẩm của một vài cây bút - chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở nhưng do phạm vi khảo sát hạn hẹp mà bài viết này không nêu hết được.

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…

Như vậy có thể nhận thấy nội dung tiểu thuyết của các nhà văn cấp úy rất phong phú, biên độ đề tài được mở rộng từ miền núi tới thành thị, từ chiến tranh đến người lính hôm nay, từ các vấn đề của lịch sử đến đương đại. Về thi pháp thể loại cũng có nhiều tìm tòi, từ truyền thống chương hồi đến tân kỳ phá cách với đủ các yếu tố huyền ảo, phi lý, hậu hiện đại…