Tiếp tục đưa Nghị quyết 51 của Đảng vào cuộc sống

QĐND - 

Quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo nguyên lí của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, xây dựng quân đội cách mạng, về thực hiện sự lãnh đạo chặt chẽ quân đội, trong suốt chiều dài lịch sử xây dựng, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng ta đã luôn coi trọng việc xác lập và không ngừng bổ sung, điều chỉnh hoàn thiện cơ chế lãnh đạo đối với quân đội, coi đây là quy luật, nguồn gốc chủ yếu và là nguyên tắc cơ bản sống còn, nhân tố quyết định mọi sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

65 năm qua, Đảng ta đã 5 lần điều chỉnh cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Mỗi một lần điều chỉnh là một lần Đảng hoàn thiện, phát triển nhận thức và hành động của mình cho phù hợp với sự lớn mạnh, phát triển của quân đội, của thực tiễn kháng chiến và cách mạng, của trình độ và kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng, tôn trọng những vấn đề có tính quy luật của đời sống trong tổ chức, lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Sau gần 4 năm thực hiện Nghị quyết số 51/NQ-TW ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam (gọi tắt là Cơ chế 51), cho thấy Đảng, Nhà nước và quân đội ta đã rất nỗ lực, cố gắng để nhanh chóng cụ thể hóa đưa Nghị quyết vào cuộc sống, hoạt động của quân đội một cách thống nhất, đồng bộ, cả trong nhận thức lẫn hành động. Ngay sau khi Nghị quyết 51 ra đời, chỉ trong một thời gian ngắn, từ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng ủy Quân sự Trung ương cho đến Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị đã liên tiếp có các nghị quyết, quyết định, quy định, quy chế, hướng dẫn chi tiết việc thực hiện. Quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết 51 là quá trình các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong toàn quân, đặc biệt là cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã chấp hành nghiêm các nghị quyết, quyết định, quy định, hướng dẫn, lộ trình, bước đi… của trên đã xác định. Làm tốt công tác chuẩn bị các điều kiện về vật chất, thể chế, con người. Thận trọng nhưng không chờ đợi có đầy đủ rồi mới thực hiện. Coi trọng sự tập trung và thống nhất cao độ về nhận thức để hành động; vừa làm vừa rút kinh nghiệm… Vì vậy, cơ chế mới đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, hoạt động của quân đội và từng đơn vị.

Cơ chế mới đã phân định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm, quyền hạn, mối quan hệ của người chỉ huy và chính ủy chính trị viên. Đề cao hơn tính đảng, tính nguyên tắc và bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc, toàn diện, xuyên suốt của cấp ủy, tổ chức đảng trong mọi nhiệm vụ của đơn vị. Giữ vững được sự đoàn kết, thống nhất trong đơn vị, đặc biệt là giữa người chỉ huy với chính ủy, chính trị viên trên cơ sở nội dung, phương pháp, quy tắc, thể lệ, quy chế, quy định cụ thể cho từng cấp. Nâng cao hiệu lực công tác đảng, công tác chính trị ở đơn vị. Phát huy cao nhất cương vị chủ trì về quân sự của người chỉ huy và cương vị chủ trì về chính trị của chính ủy, chính trị viên, tăng cường hiệu lực và tạo điều kiện tốt nhất cho người chỉ huy phát huy trách nhiệm cá nhân trong tổ chức, quản lí, chỉ huy bộ đội và huấn luyện, xây dựng đơn vị. Phẩm chất, năng lực của người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên các cấp được nâng lên, về cơ bản đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ, chức trách được giao… Nhờ đó, Đảng đã giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; các hoạt động của quân đội được quán triệt sâu sắc và triển khai tổ chức thực hiện chặt chẽ, đồng bộ, hệ thống, thống nhất, tạo nên những chuyển biến mới, tích cực. Quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trong mọi tình huống, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Bên cạnh những kết quả tích cực đó, qua một thời gian ngắn vận hành cơ chế mới, đã cho thấy những tồn tại, khuyết điểm cần tiếp tục được chấn chỉnh và khắc phục: Vẫn còn một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ chủ trì chưa nhận thức đúng, đầy đủ và rõ ràng về Nghị quyết 51; việc nghiên cứu tham mưu cho lãnh đạo, chỉ đạo để cụ thể hóa nghị quyết và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn triển khai thực hiện Nghị quyết 51 còn có những hạn chế nhất định. Đặc biệt, do thực hiện khá lâu cơ chế phó chỉ huy về chính trị và đội ngũ cán bộ chủ trì về quân sự, chính trị, nhất là cán bộ cấp cơ sở hiện nay chủ yếu được đào tạo, bồi dưỡng theo mô hình của cơ chế cũ nên một số chính ủy, chính trị viên chưa ngang tầm với vị trí chủ trì về chính trị; những suy nghĩ, thói quen, kéo theo đó là phong cách làm việc cũ chậm được khắc phục; còn có đơn vị cử những cán bộ năng lực hạn chế gửi đi chuyển loại chính trị nên chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra… Tất cả những điều đó đã ảnh hưởng nhất định và làm giảm hiệu lực của Nghị quyết 51.

Lí luận cũng như thực tiễn cho thấy, cơ chế được cấu thành bởi thể chế và con người, tác động đến mọi tổ chức và con người, bao quát mọi nhiệm vụ và mọi lĩnh vực hoạt động của quân đội, trong mọi hoàn cảnh, tình huống; hiệu lực của cơ chế tùy thuộc phần lớn vào chất lượng và việc tổ chức thực hiện những quy chế, quy định, quyết định, văn bản hướng dẫn; sự vận hành cơ chế không chỉ phụ thuộc vào hệ thống tổ chức đảng, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị mà còn thông qua tổ chức chỉ huy, quần chúng và đội ngũ cán bộ các loại… Vì vậy, để phát huy những ưu điểm và khắc phục những tồn tại, khuyết điểm, tiếp tục đưa Nghị quyết 51 vào cuộc sống, hoạt động của quân đội, cần quán triệt sâu sắc Nghị quyết 51/NQ-TW, Nghị quyết 513/NQ-ĐUQSTW và các quy định, quy chế, hướng dẫn của trên cho mọi cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp để tạo sự nhất trí cao về nhận thức và tổ chức thực tiễn. Chú trọng xây dựng cả hai mặt thể chế và con người; phát huy mạnh mẽ vai trò của các tổ chức và đoàn thể trong mỗi đơn vị từ trên xuống. Đồng thời, điều chỉnh, bổ sung đồng bộ các quy định có tính pháp lí về chức trách, nhiệm vụ của các loại cán bộ; các quy định và điều lệnh, điều lệ về tham mưu tác chiến, huấn luyện, xây dựng chính quy, rèn luyện kỉ luật, công tác hậu cần, kĩ thuật, công tác đảng, công tác chính trị; về tổ chức và hoạt động của các tổ chức, đoàn thể; xây dựng ban hành các văn bản quy phạm để hướng dẫn thực hiện, đặc biệt là việc vận hành Cơ chế 51 trong các đơn vị, cơ quan quân sự địa phương, doanh nghiệp quân đội, các đơn vị làm nhiệm vụ đặc biệt...

Bản thân Cơ chế 51 tồn tại, vận động cùng sự vận động của thực tiễn nhưng có tính ổn định và khi vận hành, nó sẽ phát hiện, loại trừ những gì không phù hợp, kể cả con người. Cho nên, phải đề cao trách nhiệm và tính tích cực, chủ động phối hợp, hiệp đồng của các cơ quan tham mưu trong nghiên cứu đề xuất ban hành, chỉ đạo, hướng dẫn việc thực hiện các quy chế, quy định thực hiện Cơ chế 51. Cân nhắc, tính hết các yếu tố chính trị, tư tưởng, tâm lí… và đặc điểm, nhiệm vụ tổ chức, hoạt động quân sự, của mỗi loại hình đơn vị quân đội; trình độ phát triển của đơn vị và cán bộ. Bám sát thực tiễn vận hành Cơ chế 51 để kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh, những nhận thức lệch lạc, những nội dung chưa phù hợp của quy định, quy chế, hướng dẫn để đề nghị trên sửa đổi, bổ sung và phối hợp giải quyết trên tinh thần kiên định quan điểm, nguyên tắc; bảo đảm tính chính xác, khoa học, toàn diện, hệ thống, đồng bộ và vững chắc; xác định rõ thẩm quyền của các cơ quan có trách nhiệm chủ trì nghiên cứu, soạn thảo, ra quyết định. Quan tâm dự báo tình hình, chuẩn bị trước các quy định, quy chế, văn bản hướng dẫn để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ không chỉ trước mắt mà còn về lâu dài, cả trong điều kiện thời bình lẫn thời chiến và trong các tình huống khác nhau. Trân trọng lắng nghe và tiếp thu các ý kiến đóng góp; thường xuyên sơ tổng kết, rút kinh nghiệm và tổ chức tốt việc phổ biến rộng rãi những kinh nghiệm về thực hiện Cơ chế. Đấu tranh kiên quyết với các khuynh hướng thiếu hợp tác, bệnh gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán, quan liêu, coi thường tập thể, xa rời quần chúng… Đặc biệt, cần coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng các loại cán bộ, nhất là đội ngũ chủ trì quân sự và chính trị theo đúng tinh thần của Nghị quyết 51 và theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; kết hợp chặt chẽ giữa bồi dưỡng đào tạo tại trường với tại chức, giữa đào tạo theo chức vụ với đào tạo theo học vấn, lấy đào tạo theo chức vụ làm chính; nội dung phải toàn diện, mang tính tổng hợp, cân đối tỉ lệ giữa kiến thức quân sự và chính trị, lí thuyết với thực hành nhưng trọng tâm là trang bị tri thức, phương pháp, nhãn quan chính trị và vốn văn hóa để cán bộ biết cách ứng xử, giải quyết các vấn đề thực tế một cách khoa học, nhân văn. Trên cơ sở quan điểm, nguyên tắc, nội dung cơ bản của Nghị quyết 51, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng cần tiếp tục bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định và nghiên cứu đề xuất với Đảng, Nhà nước sửa đổi, bổ sung các luật, văn bản dưới luật, các chế độ, chính sách đối với quân đội để trong tổ chức thực hiện bảo đảm được sự chặt chẽ, thống nhất, đồng thuận, đồng bộ; tránh được tình trạng bị động, lúng túng và khắc phục được sự chồng chéo, mâu thuẫn, kinh nghiệm chủ nghĩa, chủ quan, nóng vội, đơn giản, phiến diện một chiều…

Tiếp tục đưa Nghị quyết 51 của Đảng vào cuộc sống, hoạt động của quân đội không chỉ là nhân tố quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại mà còn góp phần vào đổi mới, làm phong phú thêm cơ chế, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lí của Nhà nước đối với xã hội và lĩnh vực quân sự, quốc phòng đất nước.

Trung tướng, TS NGUYỄN TIẾN QUỐC

Chính ủy Học viện Chính trị

Tin mới