Thuê một căn nhà có... hai hợp đồng

CATPHCM - 

Căn nhà cho thuê

Vì chưa nhận thức hết hậu quả, bên cho thuê nhà đã kí hai hợp đồng với bên thuê. “Bút sa gà chết”, bên thuê “lật kèo” không trả tiền thuê nhà. Cả hai bên cùng mệt mỏi dắt nhau ra tòa mà vẫn chưa có quyết định cuối cùng.

Theo trình bày của bà Nguyễn Thị Sáu (thường trú 1097 Hậu Giang, P11Q6) thì ngày 26-12-2007, bà và chồng là ông Võ Văn Bảy (ngụ 57G Lý Chiêu Hoàng, P10Q6) có ký hợp đồng bằng giấy tay với ông Văn Khắc Thông (ngụ Q3) để cho ông Thông thuê nhà. Theo hợp đồng, ông thuê lại căn nhà để làm trường dạy ngoại ngữ, thời gian thuê là 10 năm, giá thuê trong ba năm đầu là 2.400 đô la/tháng, bảy năm sau là 2.500 đô la/tháng, tiền cọc là 28.800 đô la (tương đương 461.950.000 đồng), tiền thuế thuê nhà ông Thông phải chịu, thời gian bắt đầu tính tiền thuê nhà là ngày 5-4-2008.

Hai ngày sau, đôi bên ra phòng công chứng số 7 ký hợp đồng thuê nhà nhưng giá thuê là 5.000.000 đồng/tháng. Sở dĩ có hợp đồng thứ hai này, theo bà Sáu là để giảm thuế cho ông Thông. Sau khi ký hợp đồng, ông Thông trả cho bà Sáu (và chồng bà Sáu) tiền cọc là 7.200 đô la, cộng với tiền thuê nhà từ năm 2008 đến cuối năm 2009, tổng cộng là 79.200 đô la. Từ quý 1-2010 đến nay, ông Thông ngưng trả tiền thuê nhà cho đến nay. Ngày 12-5-2011, bà Sáu cùng chồng kiện ông Thông ra Tòa án nhân dân Q6, yêu cầu thanh toán 17 tháng tiền thuê nhà từ đầu tháng 1-2010 đến hết tháng 5-2011 tổng số còn thiếu là 40.800 đô la (tương đương 844.560.000 đồng).

Tại tòa sơ thẩm, ông Thông cho rằng, hợp đồng thuê nhà lần đầu tiên (ngày 26-12-2007) đã vi phạm vào điều cấm của pháp luật, cụ thể là thanh toán tiền thuê nhà bằng ngoại tệ, do đó đề nghị tòa hủy hợp đồng này. Tòa sơ thẩm phản tố lại ý kiến của bị đơn (ông Thông) vì: “...Trên hợp đồng cũng thể hiện việc thanh toán bằng tiền đồng Việt Nam như: số tiền đặt cọc, tiền thuê hàng tháng được quy ra thành tiền đồng Việt Nam nhưng được đảm bảo giá trị bằng đô la. Như vậy, hợp đồng có sai sót nhưng không thể vì lý do này mà hủy bỏ toàn bộ hợp đồng theo yêu cầu của bị đơn”. Tòa sơ thẩm đã bác yêu cầu của ông Thông là tuyên hợp đồng ngày 26-12-2007 là vô hiệu, chấp nhận một phần hợp đồng ngày 28-12-2007 về giá thuê (5 triệu đồng/tháng) là có hiệu lực, buộc bà Sáu và chồng hoàn trả số tiền chênh lệch mà ông Thông đã thanh toán là 833.742.600 đồng.

Tại tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân TPHCM (ngày 11-1-2013), chủ tọa phiên tòa hủy án sơ thẩm để điều tra lại. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến: “Căn cứ các biên nhận tiền có trong hồ sơ thì có cơ sở xác định bị đơn đã thanh toán tiền thuê nhà 2.400 đô la/tháng theo hợp đồng tay (ký ngày 26-12-2007). Việc trả tiền thuê này được nguyên đơn và bị đơn tự nguyện thực hiện đều hàng quý mà hoàn toàn không có ý kiến gì cho đến ngày xảy ra tranh chấp. Như vậy, ở đây có thể thấy rằng hợp đồng ký ngày 28-12-2007 (có công chứng) đã không được hai bên thực hiện...”.

Theo tìm hiểu của người viết thì đến nay, ông Thông đã có biên bản trả nhà cho phía nguyên đơn và chịu mất tiền cọc theo các điều khoản quy định trong hợp đồng thuê nhà trước đó.

Phía nguyên đơn là bà Sáu bức xúc, theo phán quyết của cấp tòa cao hơn buộc tòa sơ thẩm xét xử lại nhưng hơn năm tháng trôi qua mà Tòa án nhân dân Q6 vẫn chưa có động tĩnh gì, làm gia đình bà đi khiếu kiện rất mệt mỏi. Chúng tôi đề nghị tòa sơ thẩm nên sớm có thông tin, lộ trình xét xử cho người dân được nhờ.


Tin mới