Thực trạng và giải pháp phát triển đảng viên ở thôn bản của Điện Biên

ĐCSVN - 

- Điện Biên tỉnh miền núi, biên giới, nhiều dân tộc anh em sinh sống; kinh tế-xã hội thuộc diện đặc biệt khó khăn của cả nước. Tính đến 31/3/2009, toàn tỉnh còn 121/1.471 thôn bản, 25/401 trường học chưa có đảng viên; 530/1.471 thôn bản, 138/401 trường học chưa có chi bộ.

Thực hiện mục tiêu NQĐH XI Đảng bộ tỉnh (2005-2010), nhiều năm qua, bên cạnh việc vận dụng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp với đặc điểm của địa phương, tập trung lãnh đạo đầu tư, hỗ trợ nhân dân chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng, phát triển sản xuất, ổn định đời sống các dân tộc, Đảng bộ còn thường xuyên chú trọng việc củng cố, xây dựng hệ thống chính trị, trọng tâm là xây dựng tổ chức đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở và công tác phát triển đảng viên.

Để thực hiện mục tiêu về phát triển đảng viên theo mục tiêu NQĐH XI của Đảng bộ tỉnh, Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy và thành lập các tổ công tác tiến hành khảo sát tình hình tổ chức đảng, đảng viên ở thôn bản, nhất là ở những thôn bản, trường học chưa có đảng viên và tổ chức đảng. Từ đó, xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan của những yếu kém trong công tác phát triển đảng viên. Mặt khác, rà soát các hướng dẫn trước đây về một số điều kiện cụ thể kết nạp đảng viên ở những cơ sở chưa có đảng viên và tổ chức đảng thuộc vùng cao biên giới, vùng sâu, vùng xa. Mở hội nghị với các đồng chí thường trực cấp ủy, trưởng các ban đảng cấp tỉnh, các huyện, thị, thành ủy, lãnh đạo sở Giáo dục-Đào tạo, Sở Y tế, Sở Công an, Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng trao đổi, thảo luận đóng góp xây dựng nghị quyết và kế hoạch thực hiện.

Triển khai chủ trương của Tỉnh ủy, các huyện, thị, thành ủy đều xây dựng kế hoạch và tập trung giúp đỡ, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nghị quyết ở từng cơ sở. Lãnh đạo một số huyện, thị, thành ủy đã chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể điều động những cán bộ, đảng viên có uy tín và năng lực xuống kịp thời giúp tháo gỡ khó khăn cho cơ sở, đánh giá, phân tích chất lượng quần chúng, thẩm định những quần chúng ưu tú cảm tình đảng đã được công nhận đưa vào kế hoạch để bồi dưỡng kết nạp. Các TCCS Đảng thuộc lực lượng công an, quân sự, biên phòng nhất là các đội công tác cơ sở của các LLVT phối hợp với các xã lựa chọn quần chúng ưu tú trong lực lượng công an viên, dân quân, tự vệ, dự bị động viên để bồi dưỡng kết nạp đảng. Các đoàn thể nhân dân phối hợp với cấp ủy xã lựa chọn cán bộ đủ điều kiện làm công tác đoàn thể đưa vào hoạt động trong các phong trào để tạo nguồn kết nạp. Chỉ đạo trung tâm bồi dưỡng chính trị mở các lớp bồi dưỡng tại huyện hoặc trung tâm cụm xã. Nội dung bài giảng được biên soạn hợp với đặc điểm đối tượng cảm tình đảng là người dân tộc thiểu số.

Nhờ có chủ trương đúng, chỉ đạo chặt chẽ với những giải pháp đồng bộ, cụ thể, từ năm 2005 đến 31/3/2009, bình quân mỗi năm tỉnh xóa được trên 10% số thôn bản chưa có đảng viên. Năm học 2007-2008, 165/358 trường học của tỉnh chưa có chi bộ, 30 trường chưa có đảng viên, thì đến năm học 2008-2009 đã có thêm 10 trường thành lập được chi bộ, 05 trường kết nạp được đảng viên. Tuy nhiên, do việc chia tách, thành lập mới, số thôn bản của tỉnh đến 31/3/2009 đã tăng hơn với cuối năm 2005 là 76 thôn bản, nên số thôn bản của tỉnh chưa có đảng viên hiện nay là 8,22%, chưa có chi bộ là 36,02%; số trường học mới thành lập thêm 43 trường, dẫn đến hiện nay tỉnh còn 6,23% trường học chưa có đảng viên; 34,41% trường chưa có chi bộ.

Để phát huy kết quả và khắc phục những hạn chế; vì mục đích nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của TCCS Đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X). Trên cơ sở tổng kết thực tiễn chỉ đạo của các cấp ủy đảng, nhất là thực trạng việc phát triển đảng viên ở những thôn bản, trường học, trạm y tế chưa có đảng viên của một tỉnh miền núi, nhiều dân tộc như tỉnh Điện Biên, xin đề xuất một số giải pháp nhằm triển khai, thực hiện công tác phát triển đảng viên như sau:

Cấp ủy các cấp phải xây dựng nghị quyết chuyên đề về phát triển đảng viên. Trong đó, lấy địa bàn thôn bản chưa có đảng viên, chưa có chi bộ làm đối tượng trung tâm; đồng thời phải xây dựng được kế hoạch tổ chức thực hiện với quy trình, bước đi cụ thể, chặt chẽ.

Trong quá trình triển khai thực hiện công tác phát triển đảng, cần tạo được sự chuyển biến nhận thức sâu sắc trong cấp ủy, tổ chức đảng cán bộ, đảng viên về công tác phát triển đảng viên; coi việc thành lập chi bộ ở thôn bản, trường học, trạm y tế chưa có đảng viên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng; đây là một nhiệm vụ trọng tâm để tập trung chỉ đạo thống nhất, đồng bộ và thường xuyên.

Với những thôn bản, trường học chưa có hoặc có ít đảng viên, phải tiến hành khảo sát kỹ, để xây dựng kế hoạch tạo nguồn. Trong đó cần chú ý tới 5 yếu tố sau: (1), Các ban, ngành, đoàn thể cấp trên cần phối hợp với cơ sở phát động các phong trào thi đua hành động cách mạng. Qua đó, phát hiện nhân tố tích cực, gồm cả những người có uy tín là trưởng dòng họ, cán bộ bản, cán bộ các đoàn thể, từ những học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú để tạo nguồn tại chỗ phục vụ công tác bồi dưỡng kết nạp đảng. (2), Thông qua việc bố trí giáo viên, cán bộ y tế và các đội công tác cơ sở để bồi dưỡng nguồn kết nạp, hoặc điều động đảng viên ở vùng khác đến làm nòng cốt. Để giải quyết được yếu tố này, cấp ủy, chính quyền huyện, thị, thành ủy phải chỉ đạo các ngành liên quan hạn chế việc luân chuyển cán bộ, nếu có thì ít nhất phải ổn định cán bộ từ 2-3 năm mới được luân chuyển. Làm được như vậy mới có điều kiện thời gian để bồi dưỡng nguồn kết nạp đảng. (3), Các huyện, thị, thành ủy có kế hoạch phối hợp với đảng ủy Công an, Quân sự, Biên phòng trong việc bồi dưỡng, chuyển giao nguồn đối tượng kết nạp đảng. Hết sức chú ý tới những thanh niên đang làm nghĩa vụ quân sự để khi họ hoàn thành nghĩa vụ về địa phương, có cơ sở tiếp tục bồi dưỡng và sớm kết nạp họ vào đảng. (4), Trên cơ sở quy định, hướng dẫn của Trung ương về công tác phát triển đảng viên, vận dụng phù hợp với đặc điểm tình hình của từng vùng, từng dân tộc, nhất là về nội dung bồi dưỡng kiến thức, điều kiện và tiêu chuẩn về học vấn. Sau kết nạp cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để đảng viên nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. (5), Đối với những địa bàn có vấn đề tuyên truyền đạo trái quy định của Nhà nước, hoặc những người có niềm tin tôn giáo, cần nắm chắc tình hình, xác định rõ xem nguyện vọng thực sự của nhân dân, nếu là chính đáng thì căn cứ Chỉ thị 01 của Thủ tướng Chính phủ; hướng dẫn chính quyền để công nhận cho nhân dân được hoạt động tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật. Khi đã được cấp có thẩm quyền cho phép hoạt động tôn giáo, nếu những người này phấn đấu tốt, thực sự công nhận Điều lệ Đảng, có ý thức chấp hành quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước thì căn cứ Quy định số 123-QĐ/TW, ngày 28-9-2004 của Bộ Chính trị (khóa IX); Hướng dẫn 40-HD/BTCTW, ngày 08-4-2005 của Ban Tổ chức Trung ương “về kết nạp đảng viên đối với người có đạo và đảng viên có đạo tham gia sinh hoạt tôn giáo”, để xem xét kết nạp họ vào đội ngũ của Đảng.

Trong chỉ đạo, đảm bảo sự phối hợp đồng bộ, thống nhất giữa cấp ủy tổ chức đảng, các cấp, các ngành và đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở. Phân công cán bộ, đảng viên am hiểu, có uy tín, kinh nghiệm, phụ trách, giúp đỡ cơ sở. Quán triệt giao nhiệm vụ cụ thể, nâng cao trách nhiệm của cấp ủy, chi bộ và đảng viên, nhất là đồng chí bí thư cấp ủy và bí thư chi bộ ở các bản.

Cấp ủy cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết rút kinh nghiệm, nhân rộng các mô hình làm tốt, biểu dương tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ phát triển đảng viên, coi công tác phát triển đảng viên là một trong những tiêu chuẩn xét thi đua, phân tích chất lượng hàng năm của các tổ chức cơ sở đảng.