Thông điệp về bệnh ung thư vú

Tin Tức Online - 19/10/2009 09:33

Thong diep ve benh ung thu vu

Với thông điệp "Thế giới Hồng. Thế giới không có ung thư vú. Hãy đeo dây nơ Hồng. Góp phần nhuộm Hồng thế giới", Esteé Lauder muốn kết nối tất cả mọi người để tìm ra giải pháp phòng ngừa và chữa trị ung thư vú.

Tháng 10 năm nay, chiến dịch nâng cao nhận thức về Ung thư vú sẽ có mặt trên 60 quốc gia và cùng hướng về một mục tiêu chung: gửi đến mọi ngõ ngách trên thế giới một thông điệp về tầm quan trọng của việc phát hiện sớm căn bệnh này. và gây dựng những nguồn quỹ có ý nghĩa cho hoạt động nghiên cứu nhằm mang đến một thế giới không có ung thư vú trong tương lai.

Biết để phòng

Bệnh được phát hiện ở giai đoạn I - khả năng chữa khỏi bệnh là trên 90%. Ở giai đoạn II - khả năng chữa khỏi bệnh là 80%. Giai đoạn III, IV - tỉ lệ này chỉ còn khoảng 10-20%.

Ung thư vú là bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ nhiều nước trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Nam giới cũng có thể mắc bệnh này nhưng chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng số bệnh nhân mắc ung thư vú. Mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 1,2 triệu người mắc bệnh. Ở một số nước phát triển như Hoa Kì, Pháp... cứ 8-10 phụ nữ thì có 1 người mắc ung thư vú.Tại miền Bắc Việt Nam, cứ 100.000 phụ nữ thì có khoảng 27 người mắc, tại miền Nam con số này khoảng 17. Trong những năm gần đây, tỉ lệ mắc ung thư vú có xu hướng tăng lên tại nhiều nước, đặc biệt ở một số nước đang phát triển do thay đổi lối sống phương Tây hóa, tuy nhiên tỷ lệ tử vong do ung thư vú đang giảm đi do bệnh được phát hiện ở giai đoạn sớm hơn nhờ áp dụng các biện pháp sàng lọc phát hiện sớm và nhờ các tiến bộ đáng kể trong điều trị như phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, nội tiết và các thuốc điều trị. Các phương pháp chẩn đoán, điều trị bệnh ung thư vú áp dụng trên thế giới hiện nay hoàn toàn có thể áp dụng tại các cơ sở chuyên khoa ung thư tại Việt Nam, khả năng chữa khỏi bệnh phụ thuộc phần lớn vào giai đoạn bệnh. Phát hiện bệnh càng sớm thì khả năng chữa khỏi bệnh càng cao. Ngoài ra, tiên lượng bệnh còn phụ thuộc một số yếu tố khác như độ mô học của khối u, yếu tố phát triển biểu mô, tình trạng của thụ thể nội tiết. Có khoảng trên 70% bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính và những bệnh nhân này sẽ được điều trị bổ sung bằng thuốc nội tiết và tiên lượng bệnh tốt hơn. Nói chung khi bệnh được phát hiện ở giai đoạn I, khả năng chữa khỏi bệnh là trên 90%, ở giai đoạn II, khả năng chữa khỏi bệnh là 80%, còn khi bệnh ở giai đoạn II, IV thì tỉ lệ này chỉ còn khoảng 10-20%.

Các yếu tố nguy cơ

Cho đến nay chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh ung thư vú nhưng người ta đã xác định được một số yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh bao gồm:

Yếu tố gia đình: Được xếp vào nhóm nguy cơ cao gồm những người có tiền sử gia đình bị ung thư vú như: mẹ, chị em gái, con gái. Phụ nữ có mẹ, chị em gái bị ung thư vú có nguy cơ mắc ung thư vú cao 2-3 lần so với phụ nữ có mẹ, chị em gái không bị ung thư vú. Những phụ nữ ung thư vú có liên quan đến tiền sử gia đình thường có xu hướng trẻ hơn và có tỷ lệ ung thứ vú hai bên cao hơn.

Gen: Biến đổi (hay đột biến) một số gen có thể làm tế bào chuyển thành ác tính. Năm 1994, người ta tìm thấy sự liên quan giữa đột biến gen ức chế u BRCA-1 và BRCA-2 nằm trên nhiễm sắc thể 17 và 13 với bệnh ung thư vú, ung thư buồng trứng và một số loại ung thư khác. Do nằm trên nhiễm sắc thể thường, các gen này có thể di truyền từ bố hoặc mẹ. Những phụ nữ mang các gen này có nguy cơ bị ung thư vú cao.

Khoảng 5% các trường hợp ung thư vú có đột biến gen BRCA-1 và thường bị bệnh khi còn trẻ. Ngoài ra, gen này cũng làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư đại tràng. Đột biến gen BRCA-2 cũng có nguy cơ gây ung thư vú ở nữ tương đương với nguy cơ đột biến gen BRCA-1.

Đột biến gen p53, một số gen khác cũng liên quan với nguy cơ ung thư vú. Những hội chứng do các rối loạn về di truyền như hội chứng Li-Fraumeni, hội chứng Cowden, hội chứng Muir, giãn mạch thất điều cơ cũng có thể làm xuất hiện ung thư vú. Những nghiên cứu gần đây cho thấy có khoảng 10% ung thư vú do di truyền.

Tuổi: Tuổi càng cao, nguy cơ mắc ung thư vú càng tăng. Số bệnh nhân bắt đầu bị bệnh lúc trên 50 tuổi chiếm trên 70% tổng số bệnh nhân ung thư vú. Phụ nữ dưới 30 tuổi rất hiếm khi mắc ung thư vú.

Các yếu tố nội tiết: Ung thư vú là một trong số các ung thư có liên quan mật thiết với nội tiết nữ, cụ thể là estrogen được sản xuất chủ yếu tại buồng trứng. Một trong những tác dụng của estrogen là làm tăng sinh các tế bào biểu mô tuyến vú, cần thiết cho quá trình sinh sản, nuôi con. Tuy nhiên, nếu tế bào tuyến vú tiếp xúc với estrogen quá nhiều, các tế bào tăng sinh mạnh kết hợp với các đột biến có thẻ xảy ra trong quá trình phân chia tế bào sẽ có khả năng phát triển thành ung thư vú. Do đó những yếu tố làm tăng thời gian tiếp xúc của tuyến vú với estrogen đều có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. Cụ thể là những yếu tố sau:

- Tuổi bắt đầu có kinh sớm làm tế bào tuyến vú sớm tiếp xúc estrogen. Những người có kinh sớm cũng có nồng độ estrogen cao hơn những người có kinh muộn.

- Tuổi mãn kinh muộn hoặc đã mãn kinh nhưng dùng nội tiết thay thế có chứa estrogen cũng làm tăng nguy cơ ung thư vú. Nguy cơ ung thư vú có thể giảm một nửa ở phụ nữ mãn kinh trước 45 tuổi so với mãn kinh sau 55 tuổi. Những phụ nữ chưa mãn kinh nhưng phải cắt bỏ buồng trứng vì một lý do nào đó cũng giảm nguy cơ ung thư vú.

- Những phụ nữ không sinh con có nguy cơ bị ung thư vú cao gấp 1,4 lần phụ nữ sinh con. Nếu phụ nữ mang thai lần đầu sau 30 tuổi có nguy cơ bị bệnh cao gấp 2 đến 5 lần so với phụ nữ mang thai đủ thời gian trước 18 tuổi.

- Không cho con bú cũng là một yếu tố nguy cơ. Nguy cơ ung thư vú sẽ giảm 4% mỗi năm mà người phụ nữ cho con bú.

- Tiền sử bị các bệnh tại vú: Viêm vú trong khi sinh đẻ và một số bệnh vú lành tính như quá sản không điển hình (atypical hyperplasia) cũng là các yếu tố tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư vú.

- Ít vận động, béo phì: Những phụ nữ béo, đặc biệt khi đã mãn kinh liên quan với nguy cơ ung thư vú tăng. Người ta cho rằng estrogen được sinh ra trong mô mỡ đã làm tăng nguy cơ ung thư vú ở những người này. Nguy cơ ung thư vú tăng khoảng 9% ở người ít vận động. Phụ nữ mãn kinh cân nặng trên 70kg có nguy cơ cao gấp 2 lần so với những phụ nữ dưới 60kg.

- Tiếp xúc với tia phóng xạ: Phụ nữ tiếp xúc với tia phóng xạ khi còn trẻ như phải điều trị bằng tia xạ tại vùng ngực vì các bệnh ác tính khác (như u lymphô ác tính không Hodgkin hoặc Hodgkin) có nguy cơ bị ung thư vú cao hơn những phụ nữ khác gấp 12 lần.

Phương pháp phòng tránh tốt nhất là giảm tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ, có chế độ dinh dưỡng hợp lý (tăng cường ăn rau quả, giảm chất béo), tăng cường hoạt động thể lực, duy trì chế độ luyện tập thể dục đều đặn, giảm nguy cơ béo phì, hạn chế uống rượu, không hút thuốc lá, thận trọng trong việc sử dụng thuốc nội tiết thay thế sau khi mãn kinh (với sự tư vấn bởi các bác sĩ chuyên khoa), cân nhắc thời gian sinh đẻ hợp lý, không nên sinh con đầu lòng muộn, nên nuôi con bằng sữa mẹ.

Triệu trứng

Biểu hiện lâm sàng của ung thư vú có đặc trưng là kéo dài và rất khác nhau giữa các bệnh nhân.

Khối u ở vú: Khoảng 90% triệu trứng đầu tiên của bệnh ung thư vú là có khối u. Ung thư vú mới phát hiện triệu chứng rất nghèo nàn. Thường chỉ thấy có khối u nhỏ ở vú, bề mặt gồ ghề không đều, mật độ cứng chắc, ranh giới không rõ ràng. Ở giai đoạn sớm khi u chưa xâm lấn lan rộng thì di động dễ dàng. Giai đoạn cuối u đã xâm lấn rộng ra xung quanh, vào thành ngực thì di động hạn chế, thậm chí không di động.

Thay đổi da trên vị trí khối u: Thay đổi da do ung thư vú có một số biểu hiện. Thường gặp nhất là dính da, co rút da có dạng như "lúm đồng tiền". Dính da ở thời kì đầu rất khó phát hiện, thường chỉ được bác sĩ có kinh nghiệm mới phát hiện được. Ung thư vú có thể gây xuất hiện trên da vú ở vị trí trên khối u đỏ lên và nóng tại chỗ, có thể là phù da, sần da như vỏ cam (gọi là sần da cam).

Thay đổi hình dạng núm vú: Khối u xâm lấn gây co kéo tổ chức xung quanh. Khi khối u ở gần núm vú có thể gây tụt núm vú, lệch lúm vú. Một số trường hợp ung thư vú gây loét núm vú, lúc đầu thường chẩn đoán nhầm là chàm. Nếu không được chẩn đoán và điều trị sớm, tổ chức ung thư phát triển gây lở loét mảng lớn ở núm vú, cũng có thể gây mất núm vú.

Chảy dịch đầu vú: Ung thư vú đôi khi gây chảy dịch đầu vú. Một số trường hợp bệnh nhân đến bệnh viện vì lí do chảy dịch đầu vú. Dịch chảy có thể là dịch không màu, dịch nhày, nhưng thường là dịch máu. Làm xét nghiệm tế bào dịch đầu vú, chụp ống tuyến vú có bơm thuốc cản quang, nội soi ống tuyến sữa, lấy tổ chức gây chảy dịch làm giải phẫu bệnh là phương pháp chủ yếu để chẩn đoán chính xác.

Hạch nách sưng to: Giai đoạn đầu hạch nách thường nhỏ mềm khó phát hiện trên lâm sàng. Giai đoạn muộn hạch nách to, cứng chắc, đôi khi dính nhau, dính tổ chức xung quanh nên di động hạn chế. Tổ chức ung thư di căn tới hạch nách phá vỡ vỏ hạch, xâm lấn ra ngoài da, gây vỡ loét da vùng nách. Đôi khi hạch nách sưng to là triệu trứng đầu tiên phát hiện ung thư vú.

Đau vùng vú: Thường ung thư vú giai đoạn đầu không gây đau, đôi khi có thể bị đau vùng vú, nhấm nhứt không thường xuyên.

Biểu hiện ung thư vú giai đoạn cuối: Ung thư vú giai đoạn cuối tại chỗ có thể xâm lấn gây lở loét, hoại tử ra ngoài da gây chảy dịch, mùi hôi thối, xâm lấn thành ngực gây đau nhiều. Có thể di căn hạch nách, hạch thượng đòn, xương, não, phổi, gan, gây gầy sút, mệt mỏi, đau nhiều, khó thở, liệt.

Tự làm bác sĩ

Bạn đừng coi thường quá trình tự kiểm tra sức khỏe đơn giản. Đối với những phụ nữ hoàn toàn không có triệu chứng, mỗi tháng hãy tự kiểm tra ngực một lần, đây chính là cách phát hiện bệnh ung thư vú sớm nhất. Trong vòng một tuần sau kì kinh là thời điểm tốt nhất để tự kiểm tra ngực mình - vì khi đó ngực trở nên mềm mại, dễ kiểm tra nhất. Với phụ nữ đã mãn kinh thì nên tiến hành kiểm tra sức khỏe định kì. Để dễ nhớ bạn có thể định ngày đầu tiên trong tháng là ngày kiểm tra sức khỏe. Nếu bạn không khẳng định được kết quả tự kiểm tra có đúng hay không hãy đi khám bác sĩ 1 lần/năm hoặc cách một năm một lần. Trước khi đi khám bác sĩ lần đầu tiên, bạn hãy tự kiểm tra kỹ vùng ngực của mình, sau đó so sánh với kết quả kiểm tra của bác sĩ, như vậy bạn sẽ càng nắm vững kỹ năng tự kiểm tra.

Các phương pháp phát hiện bệnh sớm bao gồm:

Tự khám vú

Nên tự khám vú hàng tháng sau sạch kinh 5 ngày đối với phụ nữ từ 20 tuổi trở lên. Các bước tiến hành theo thứ tự được mô tả như sau:

Chuẩn bị: Cởi bỏ áo, nơi tiến hành tự khám vú có thể là buồng ngủ là tốt nhất hoặc buồng tắm, có đầy đủ ánh sáng, có thể ngồi trên ghế hoặc đứng miễn là thoải mái.

Quan sát: Xuôi tay, quan sát xem có các thay đổi ở vú: u cục, dầy lên, lõm da hoặc thay đổi màu sắc da.

Đưa tay ra sau gáy, sau đó quan sát lại.

Chống tay lên hông làm cử động cơ ngực lên xuống bằng động tác nâng vai lên hay hạ vai xuống. Động tác này làm cho các thay đổi nếu có sẽ rõ hơn.

Nặn nhẹ đầu vú xem có dịch chảy ra không.

Sờ nắn: Đưa tay phải ra sau gáy. Dùng tay trái sờ nắn vú phải, 4 ngón tay đặt sát vào nhau thành một mặt phẳng, ép đều đặn lên các vùng khác nhau của tuyến vú vào thành ngực theo hướng vòng xoáy ốc từ đầu vú trở ra ngoài.

Kiểm tra (từng vùng của vú) cả về phía hố nách.

Làm tương tự với vú bên trái.

Khi nằm: Nằm ngửa thoải mái. Đặt một gối mỏng ở dưới lưng bên trái. Lặp lại quá trình khám như ở buồng tắm. Chuyển gối, làm lại cho bên phải.

Khám phát hiện sớm ung thư vú tại các cơ sở chuyên khoa

Khám định kì sàng lọc phát hiện ung thư khi chưa có dấu hiệu lâm sàng thường áp dụng 1 năm/lần cho phụ nữ từ 40 tuổi trở lên hoặc trẻ hơn đối với người có nguy cơ cao. Khám định kì bao gồm khám lâm sàng bởi thầy thuốc chuyên khoa và chụp X-quang tuyến vú. Khi một phụ nữ tự phát hiện có dấu hiệu bất thường tại vú nên đến ngay các cơ sở chuyên khoa ung thư tin cậy để được khẳng định bệnh. Chi phí khám bệnh dao động từ 70.000 đến 100.000 đồng cho mỗi lần khám.

Những tình huống lâm sàng

U xơ tuyến vú: Thường gặp ở phụ nữ trẻ, u thường tròn, nhẵn, ranh giới rõ ràng, di động khi khám lâm sàng. Để chẩn đoán xác định rõ cần làm thêm các xét nghiệm như chụp vú, chọc hút tế bào bằng kim nhỏ.

Viêm xơ tuyến vú nang hóa: Có thể gặp một nang hoặc nhiều nang to nhỏ ở cả hai bên vú, có cảm giác căng. Cần siêu âm để chẩn đoán xem khối u đặc hay chứa dịch. Một số trường hợp chỉ cần chọc hút dịch là khối u biến mất trên thăm khám lâm sàng.

U nhú nội ống: Biểu hiện chảy máu qua núm vú.

Áp xe tuyến vú: Có thể gặp ở giai đoạn đầu hoặc giai đoạn cấp bùng phát của bệnh với những biểu hiên như sưng, nóng, đỏ, đau.

Trong thực tế có nhiều trường hợp bị đau tại vú nhưng thăm khám lâm sàng không phát hiện u, chụp X-quang không thấy tổn thương, siêu âm không có kết quả rõ ràng. Trường hợp này thường được gọi là viêm tuyến vú nội tiết. Nên xét nghiệm định lượng nồng độ estrogen và progesteron trong máu và nên cân nhắc các liệu pháp điều trị bằng thuốc.

Hãy kiểm tra gen để phòng chống ung thư vú

Bác sĩ khuyên những phụ nữ có độ tuổi từ 18 đến 45 có người nhà mắc bệnh ung thư vú hãy đi kiểm tra gen để phát hiện bệnh này. Ngoài ra, những phụ nữ tuy tuổi đã cao nhưng nếu cũng có ngưiừ nhà bị ung thư vú cũng nên kiểm tra. Kiểm tra gen rất đơn giản, bạn chỉ cần lấy mẫu máu là được. Nếu cơ thể bạn phát hiện có gen đột biến BRCA1 và BRCA2 các bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn loại thuốc phòng ngừa ung thư vú. Việc kiểm tra gen có thể phát hiện sớm những ai có nguy cơ mắc ung thư vú, từ đó bác sĩ và bệnh nhân có thể theo dõi chặt chẽ để sớm đưa ra được phác đồ điều trị phù hợp, đem lại cho người bệnh hiệu quả trị liệu tốt nhất.

Vì sao phụ nữ phát hiện và điều trị ung thư vú muộn

Hơn 65% phụ nữ không bao giờ tự khám vú.

17,5% phụ nữ điều trị bằng đắp lá hoặc các thuốc dân gian trước khi đến bệnh viện.

Gần 65% phụ nữ không nhận được thông tin tuyên truyền về ung thư vú.

Cách phòng bệnh là phát hiện sớm bằng việc tự khám vú hoặc chụp vú, khám vú bởi nhân viên y tế.

Người ta ước tính phải mất 5-10 năm để một tế bào ung thư ban đầu phát triển lên và hình thành một khối u có kích thước 1cm - kích thước có thể phát hiện qua thăm khám lâm sàng.

Nếu một khối u ác tính không được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm, nó có thể xâm lấn mạch máu và hệ thống bạch huyết để di căn đến các nơi khác xa hơn trong cơ thể như phổi, gan, xương...và tại đó chúng lại phát triển lên, phá hủy mô lành.

Những người có nguy cơ mắc ung thư vú cao

Những người có kinh sớm, mãn kinh muộn: Do nồng độ estrogen nội sinh quá cao hình thành những tế bào dễ bị mắc bệnh, dễ chuyển dạng ác tính làm tăng nguy cơ ung thư vú. Phụ nữ có kinh lần đầu trước tuổi 13 nguy cơ ung thư vú cao gấp 2 lần so với những phụ nữ bắt đầu có kinh ở tuổi 13 trở lên. Phụ nữ mãn kinh ở sau tuổi 55 có nguy cơ cao gấp 2 lần so với phụ nữ mãn kinh trước tuổi 45.

Những người dùng viên tránh thai kéo dài liên tục từ 10 năm trở lên, nguy cơ phát triển ung thư vú tăng từ 2-3 lần. Nhưng cũng có phát hiện lại cho thấy, sử dụng thuốc tránh thai sẽ làm giảm nguy cơ những bệnh lành của tuyến vú, các bệnh biến đổi xơ nang tuyến vú.

Phụ nữ chưa sinh đẻ có nguy cơ cao hơn phụ nữ đã sinh đẻ một hoặc nhiều lần.

Phụ nữ có thai lần đầu trên 30 tuổi có nguy cơ phát triển ung thư vú từ 4-5 lần so với phụ nữ sinh con trước 20 tuổi.

Phụ nữ hay phá thai có sử dụng thuốc kích thích cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú gấp 2 lần so với phụ nữ chưa bao giờ nạo phá thai.

Sử dụng kéo dài thuốc chống trầm cảm (tricylic, paroxetine) từ 25 tháng trở lên cũng làm tăng tỉ lệ ung thư vú gấp 2 lần so với những phụ nữ không sử dụng thuốc.

Điều trị ung thư vú

Chẩn đoán bệnh

HIện tại có 3 phương pháp chẩn đoán sớm ung thư vú tại cơ sơ chuyên khoa ung thư đó là: thầy thuốc khám tuyến vú, chụp X-quang tuyến vú, làm xét nghiệm tế bào khối u vú. Nếu cả 3 xét nghiệm này dương tính, thì chắc chắn bệnh nhân mắc ung thư vú. Nếu 1 trong 3 phương pháp này nghi ngờ hoặc âm tính, sẽ tiến hành lấy khối u làm xét nghiệm giải phẫu bệnh ngay khi bệnh nhân còn trên bàn mổ, sau 15 phút sẽ có kết quả và nếu chẩn đoán là ung thư bệnh nhân sẽ được điều trị phẫu thuật ung thư như các trường hợp ung thư khác.

Ngoài các phương pháp chẩn đoán sớm khối u vú trên, hiện nay chụp cộng hưởng từ tuyến vú cũng được xem là một phương pháp chẩn đoán bệnh sớm, tuy nhiên do hiện nay giá thành xét nghiệm này còn cao nên chưa áp dụng rộng rãi cho mọi đối tượng.

Các phương pháp điều trị

Bệnh ung thư vú được chia thành các giai đoạn, tùy thuộc vào tính chất, kích thước khối u, số lượng hạch nách di căn, tình trạng di căn xa của bệnh mà khối u được xếp từ giai đoạn I đến giai đoạn IV. Điều trị bệnh ung thư vú phụ thuộc chủ yếu vào giai đoạn bệnh. Ngoài ra một số yếu tố khác như bệnh tim mạch, hô hấp, suy chức năng gan, thận, dị ứng, tuổi cao...liên quan đến các chống chỉ định trong phẫu thuật, tia xạ hay điều trị hóa chất. Bệnh nhân đến viện càng sớm thì các phương pháp điều trị càng đơn giản, ít tốn kém, đặc biệt, khả năng chữa khỏi bệnh lớn.

Các phương pháp điều trị ung thư vú được áp dụng hiện nay bao gồm phẫu thuật, tia xạ, hóa chất, thuốc nội tiết và các thuốc điều trị sinh học. Việc điều trị phối hợp các phương pháp phụ thuộc vào tình trạng từng bệnh nhân.

Phẫu thuật: Có nhiều hình thức phẫu thuật được áp dụng trong điều trị ung thư vú:

Phẫu thuật bảo tồn: Cắt rộng tuyến vú có chứa u kèm theo vét hạch nách, được áp dụng cho bênh nhân có bệnh ở giai đoạn sớm, phụ nữ có nhu cầu giữ lại tuyến vú.

Phẫu thuật cắt tuyến vú: Cắt toàn bộ tuyến vú có u kèm theo vét hạch nách. Áp dụng cho các khối u còn di động, chưa xâm lấn lan rộng, hạch nách còn di động, chưa có di căn xa.

Phẫu thuật tạo hình: Sau phẫu thuật cắt tuyến vú, phẫu thuật tạo hình tái tạo lại hình dáng tuyến vú được áp dụng cùng thời điểm với phẫu thuật cắt tuyến vú hoặc sau khi phẫu thuật cắt tuyến vú trong một thời gian cho những bệnh nhân có nhu cầu.

Ngoài ra phương pháp phẫu thuật còn được áp dụng trong sinh thiết khối u, sinh thiết hạch cửa, cắt buồng trứng trong điều trị nội tiết cho một số bệnh nhân còn kinh nguyệt có chỉ định.

Tia xạ: Được áp dụng cho tất cả các bệnh nhân sau phẫu thuật bảo tồn, một số bệnh nhân có u kích thước quá lớn, số lượng hạch nách di căn nhiều, tia xạ cắt buồng trứng hoặc tia xạ chống đau, chống chèn ép, chảy máu trong nhiều trường hợp ung thư giai đoạn muộn.

Hóa chất: Được áp dụng rộng rãi ngay từ khi bệnh còn ở giai đoạn sớm vì ngày nay người ta xác định rõ ung thư vú không phải là bệnh tại chỗ, các khối u vú có thể đã có những tế bào di căn xa ngay từ thời điểm khối u còn rất nhỏ mà các phương pháp chẩn đoán hiện tại chưa phát hiện được. Có nhiều loại hóa chất được áp dụng trong điều trị ung thư vú, việc chỉ định cụ thể phải đưa vào đặc điểm bệnh của từng bệnh nhân, từ đó bác sĩ sẽ lựa chọn phác đồ điều trị bệnh phù hợp với từng người bệnh. Những năm gần đây nhiều loại thuốc hóa chất mới ra đời như paclitaxel, gemcitabine, navelbine, lipo-doxorubicin đã tăng thời gian sống thêm đáng kể cho bệnh nhân ung thư vú.

Nội tiết: Có khoảng trên 70% các khối u vú phát triển phụ thuộc vào nội tiết, bằng xét nghiệm mô bệnh học với phương pháp nhuộm đặc biệt có thể biết đượ khối u phát triển có phụ thuộc vào nội tiết, bệnh nhân sẽ được điều trị nội tiết trong vòng 5 năm, các bác sĩ sẽ dựa trên tình trạng kinh nguyệt, một số yếu tố khác và cân nhắc xem bệnh nhân sẽ được điều trị bằng loại thuốc nội tiết nào. Các thuốc nội tiết thế hệ mới ra đời như anastrozole, letrozole, exemestane...có tác dụng làm tăng thời gian sống và làm giảm tác dụng phụ so với các thuốc nội tiết thế hệ ban đầu.

Thuốc điều trị sinh học: Với sự phát triển không ngừng của khoa học hiện đại, một số thuốc điều trị sinh học đã và đang áp dụng có hiệu quả cao trong điều trị ung thư vú như thuốc kháng thể chống yếu tố phát triển biểu mô (Trastuzumab). Tuy nhiên, thuốc này cũng chỉ được chỉ định trong các trường hợp mắc ung thư vú có thụ thể yếu tố phát triển biểu mô dương tính và hiện nay giá thành của thuốc còn đắt nên việc áp dụng chưa được rộng rãi. Ngoài ra, còn một số thuốc khác như thuốc chống tăng sinh mạch bevacizumab cũng được chỉ định trong điều trị bệnh ung thư vú giai đoạn tái phát di căn xa.

Những biến chứng sớm của phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú:

Nhiễm trùng vết mổ: Vùng mổ có thể sưng nề, tấy đỏ, có thể kèm theo tình trạng nhiễm trùng toàn thân nhưng hiếm khi gặp vì bệnh nhân đang được dùng kháng sinh sau mổ.

Chảy máu, tự máu sau mổ: Thường tai biến xảy ra trong vòng 24-48 giờ đầu sau mổ có thể do buộc các mạch không tốt hoặc do bật các nút cầm máu khi dùng dao điện đốt trong quá trình mổ. Khi đã tạo thành ổ máu cục cần phải mở lại vết mổ để lấy máu cục. Những trường hợp khác phải theo dõi sát số lượng dịch máu sau khi xử lý bảng ép vết mổ và dùng các thuốc cầm máu, khi cần có thể phải mở lại vết mổ để cầm máu kịp thời.

Thiếu dinh dưỡng hoặc hoại tử vạt da phủ tại vùng ngực hoặc vùng nách cũng có thể xảy ra nếu vạt da quá mỏng hoặc do mạch máu cung cấp vùng đó bị tổn thương. Cần phải cắt lọc, khâu vá lại vạt da đã bị hoại tử.

Đọng dịch tại vị trí thành ngực hay hố nách sau mổ, thường lượng dịch qua dẫn lưu từ 30 đến 40ml trong vòng 24 giờ. Sau khi rút dẫn lưu có thể đặt thay vào vị trí của sonde dẫn lưu một "lam" dẫn lưu ngắn để dịch còn lại có thể ra hết và rút sau 2-3 ngày. Khắc phục tình trạng đọng dịch bằng những bài tập tay tối thiếu sau khi rút sonde dẫn lưu. Một sốt trường hợp có thể phải mở dẫn lưu lại hoặc phải lưu sonde lâu hơn ở những trường hợp lượng dịch ra nhiều.

Các biến chứng sớm do tia xạ

Biến chứng sớm do tia xạ chủ yếu là đỏ da vùng tia với các mức độ từ nhẹ đến nặng, có trường hợp gây bỏng da vùng thành ngực do tia xạ, hiện nay với kỹ thuật tia xạ hiện đại, máy tia xạ gia tốc sẽ làm tăng hiệu quả điều trị bệnh và làm giảm đáng kể tác dụng phụ này.

Các tác dụng phụ do điều trị hóa chất

Các thuốc hóa chất khi truyền hoặc uống đều có tác dụng phụ nhất định. Các loại thuốc hóa chất khác nhau có thể gây ra tác dụng phụ khác nhau. Tác dụng phụ chủ yếu thường là nôn, buồn nôn, rối loạn tiêu hóa, rụng tóc, mệt mỏi, chán ăn, hạ bạch cầu. Mức độ xuất hiện tác dụng phụ tùy thuộc vào từng loại phác đồ, cơ địa của mỗi bệnh nhân. Hiện nay, với sự hỗ trợ của thuốc chống nôn, thuốc tăng bạch cầu, hồng cầu, các thuốc giải độc, các tác dụng phụ này giảm đáng kể. Trong khi truyền hóa chất có thể gặp phải biến chứng như thoát mạch, một số thuốc khi thoát mạch sẽ gây ra tình trạng hoại tử mô tại chỗ. Để hạn chế tai biến này trong khi truyền phải cố định tốt vị trí tiêm truyền hoặc có thể đặt buồng tiêm truyền tĩnh mạch trung tâm khi có điều kiện.

Biến chứng muộn

Thường gặp nhất là phù tay sau vét hạch nách. Những yếu tố liên quan tới phù tay là biến chứng của đọng dịch vết mổ, xạ trị hậu phẫu thuật hoặc vét hạch quá sâu.

Một biến chứng muộn nữa của phẫu thuật vét hạch nách là cảm giác tê bì vùng sườn nách phía dưới hố nách và tê bì mặt trong cánh tay cùng bên của vú do phẫu thuật. Để khắc phục những biến chứng muộn sau phẫu thuật bệnh nhân sau mổ cần được hướng dẫn bởi những bài tập tay một cách đều đặn thường xuyên.

Chữa trị ung thư vú "nội" hay "ngoại"?

Singapore là điểm đến mà các bệnh nhân mắc ung thư và có điều kiện kinh tế chọn lựa với tâm lý đất nước hiện đại sẽ có những thiết bị, kỹ thuật cũng như phương pháp chữa trị mới và hiện đại nhất. Từ đó, khả năng chữa khỏi bệnh sẽ cao hơn trong nước.

Theo TS Trần Văn Thuấn, Phó GĐ Viện K Hà Nội, thì lợi thế của Singapore so với Việt Nam là cơ sở hạ tầng, phòng ốc và dịch vụ chăm sóc bệnh nhân tốt hơn. Do đó, bệnh nhân được điều trị trong môi trường thoải mái, đầy đủ vật chất sẽ có tâm lí tốt hơn so với bệnh nhân trong nước phải chấp nhận môi trường phòng ốc chật chội, thiếu tiện nghi. Còn những yếu tố khác như thuốc men, trình độ nhân viên y tế, máy móc thiết bị thì Việt Nam không thua kém Singapore và thế giới. Trên thực tế, viện K còn tiếp nhận các bệnh nhân đã chữa trị từ Singapore chuyển về do kinh tế của họ không tiếp tục chi trả nổi mức chi phí cao nữa.

Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ mới trong chữa trị ung thư vú bao gồm cả phương pháp điều trị, kỹ thuật, máy móc, thuốc men... Đơn cử như: Kỹ thuật phẫu thuật tăng tỉ lệ mổ bảo tồn (tức là giữ cho vú ít bị biến đổi nhất) kết hợp với hóa chất giảm thiểu kích thước khối u; Loại thuốc kháng thể đơn dòng trong phương pháp điều trị sinh học (giá thành điều trị khoảng 700 triệu/năm). Liệu pháp nhắm trúng đích kết hợp với hóa chất tăng hiệu quả chữa bệnh so với dùng hóa chất đơn thuần; Máy xạ trị gia tốc có ưu điểm hạn chế ảnh hưởng phụ như sạm da, ảnh hưởng đến tim phổi... có giá thành từ 15-20 triệu/1 liệu trình điều trị từ 4-5 tuần.

Các loại hóa chất nội tiết có tác dụng giảm tỉ lệ tái phát, tăng tỉ lệ sống có giá từ 2-20 triệu/đợt tùy phác đồ điều trị.

Phỏng vấn người bệnh

Hai bệnh nhân được phỏng vấn không muốn chụp hình nhưng họ sẵn sàng bày tỏ những suy nghĩ của mình - và đó là những suy nghĩ hoàn toàn trái ngược nhau về cùng một căn bệnh...

Tôi phát hiện ra mình mắc ung thư vú vào tháng 9 năm 2004. Biểu hiện ban đầu của tôi là thấy cơ thể rất mệt mỏi, ăn không tiêu và sờ thấy hạch ở gần nách. Tôi đã đi khám và được bác sĩ kết luận: ung thư vú. Mới đầu nghe thế thì cũng hoảng sợ lắm. Tôi nhập viện K và 4 ngày sau tôi được đưa lên bàn mổ. Khối u của tôi đã to bằng đầu ngón tay và di căn ra 20 hạch nách đều dương tính. Năm đó, đến 30 Tết mà tôi vẫn nằm ở viện để truyền hóa chất. Tổng cộng là 8 đợt truyền hóa chất và tia xạ một tháng. Sau đó thì sức khỏe của tôi khá dần lên. Đến giờ, 5 năm sau khi phẫu thuật, tôi vẫn tiếp tục uống thuốc nội tiết, thuốc bổ gan và cung cấp canxi. Thời gian sau phẫu thuật, tôi cũng chăm uống nước nghệ và nước dứa ép vì nghe nói hai loại đồ uống này có tác dụng giảm được 72% khả năng di căn vào phổi. Sức khỏe của tôi giờ khá ổn định, và tôi tin đó là vì trong suốt quá trình điều trị tôi luôn tin tưởng vào tay nghề của các bác sĩ.

(Bà Vũ Thị Phương Thúy, 61 tuổi, trú tại An Dương, Hải Phòng)

Tôi mới phát hiện ra mình mắc ung thư vú. Hôm đó tự nhiên sờ và phát hiện mình có cái hạch ở vú, ở cả nách nữa. Tôi đã đến 4 bệnh viện để xét nghiệm và bệnh viện nào cũng cho kết quả là ung thư vú. Tôi thực sự không muốn mổ vì thấy một số người bị bệnh này cứ mổ xong là...chết. Cháu tôi cũng bị vào mổ, được 2 năm thì chết mà tốn những hai trăm triệu. Nhà tôi làm gì có nhiều tiền như thế. Hàng xóm nhà tôi cũng có một bà, sau khi mổ tay sưng vù, hơn 1 năm sau cũng chết. Thế là tôi nghĩ đằng nào cũng chết thì mổ làm gì cho tốn kém. Dạo này tôi đang đi chữa thuốc nam của một ông lang trên Phú Thọ. Tôi cứ uống từng đợt thuốc mười ngày một đợt mà chỉ hết 100 ngàn đồng thôi. Tôi chưa đến giai đoạn đắp thuốc nhưng nghe nhiều người nói đắp thuốc xong khối u bong ra. Uống thuốc của ông lang phải kiêng đồ tanh, kiêng đám ma và không được tắm. Tôi phải kiêng tắm đến...4 tháng rồi đấy. Chồng con cũng buồn và suy sụp nhưng tinh thần tôi lại rất thoải mái. Từ lúc bị bệnh đến giờ tôi tăng 2 kg, từ 63 kg lên 65 kg. Nói chung lo lắng cũng chẳng ích gì, cứ điều trị thôi, còn nếu số mình chết thì chết chứ có sao. Tôi rất thoải mái và không lo lắng gì về bệnh tật.

(Bà Nguyễn Thị Nụ, 65 tuổi ở xã An Đồng, An Dương, Hải Phòng)

Chống ung thư từ trong nhà bếp

Có thể nói, thứ vũ khí mạnh nhất trong cuộc chiến bảo vệ sức khỏe và phòng chống các dấu hiệu ung thư nằm trong... tủ lạnh và trên... bàn ăn của bạn: những gì bạn ăn và không ăn có tác động trực tiếp đến "cơ hội" mắc các bệnh ung thư (trong đó ung thư vú), tiểu đường và tim mạch. Những chất dinh dưỡng tốt có khả năng giảm nguy cơ mắc - phát triển và tái phát các căn bệnh ung thư nói chung. Những thông tin về các chất dinh dưỡng có tác dụng phòng chống ung thư vú hiện không phải hiếm, nhưng những thông tin dưới đây sẽ giúp bạn chọn những loại thực phẩm có tác dụng ngăn ngừa dấu hiệu của các căn bệnh ác tính khác có tác động làm tăng nguy cơ mắc ung thư vú cũng như làm trầm trọng bệnh tiểu đường, béo phì, tăng huyết áp, tim mạch.

Theo kết quả thống kê của Tổ chức y tế thế giới (WHO) 1/3 số ca mắc ung thư do các nguyên nhân xuất phát từ chế độ ăn gây ra, chính vì vậy, một chế độ ăn lành mạnh không chỉ giúp bạn phòng chống ung thư vú mà còn ngăn ngừa nhiều loại ung thư khác, đồng thời nâng cao chất lượng sống của bạn.

5 quy tắc vàng của một chế độ ăn lành mạnh

Thực vật là chính: Nhiều rau, hoa quả và nhiều chất xơ (ngũ cốc và các loại hạt).

Ít béo - chủ yếu là dùng các chất béo có lợi.

Giới hạn đường ngũ cốc/bột mì tinh chế.

Uống nhiều nước, hạn chế đồ uống có cồn.

Duy trì đều đặn các hoạt động thể chất để đạt được và duy trì một mức cân nặng lý tưởng cho cơ thể.

Chế độ ăn dựa trên thực vật là chính

Một chế độ ăn dựa trên thực vật là chính giúp hạ thấp nguy cơ mắc và tái phát ung thư vú. Yếu tố cơ bản của chế độ ăn này là nhiều hoa quả, rau, ngũ cốc nguyên cám, đậu và các nguồn protein thực vật khác.

Rau và hoa quả chứa nhiều vitami, chất khoáng, chất xưo, đặc biệt là các chất dinh dưỡng nguồn gốc thực vật như carotenoit, lycopen, indol, isoflavon, flavonol). Beta-caroten trong rau quả là một trong 600 loại carotenoit có thể chuyển vitamin A vào cơ thể, kiềm chế sự sản sinh các tế bào ung thư vú bằng cách kích thích quá trình apoptosis (quá trình diễn ra xuyên suốt cuộc sống, giúp cơ thể giải phóng những tế bào không cần thiết, bảo vệ tế bào bằng cách dọn dẹp các tế bào sai hỏng di truyền mà có thể dẫn tới ưng thư, và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của phôi và duy trì mô trưởng thành), kiềm chế sự phát triển của các thụ thể estrogen dương tính (ER+) và âm tính (ER-). Chế độ ăn giàu beta-caroten, retinol và các chất chống ôxi hóa khác có khả năng giảm nguy cơ mắc ung thư vú tới 50%, có khả năng bảo vệ tốt hơn mọi loại thuốc bổ và giảm nguy cơ mắc các thụ thể estrogen dương tính (ER+) và thụ thể progesterone dương tính (PR+).

Nên ăn các loại rau và hoa quả có màu cam, đỏ như: cà rốt, khoai lang, bí ngô, dưa đỏ (giàu beta-caroten), cải xanh, súp lơ trắng, súp lơ xanh, cải xoăn, su hào, cải cay, củ cải, cải xoong, cải ngựa.

Lưu ý: Ngày nay, các loại rau quả đang bị lạm dụng thuốc trừ sâu và thuốc bảo quản. Nhiều người chuyển sang sử dụng các loại hoa quả và thực vật hữu cơ (loại không dùng hóa chất), có hàm lượng dinh dưỡng không kém gì các loại rau quả trồng tự nhiên. Nếu có điều kiện, bạn nên tự trồng các loại rau hữu cơ như vậy, còn nếu không, bạn nên chọn loại ít bị ảnh hưởng bởi chất hóa học nhất.

Loại dễ bị nhiễm độc từ các chất hóa học nhất: Đào, táo, ớt chuông, cần tây, dâu tây, sơ-ri, rau diếp, nho nhập, lê, rau bina, khoai tây.

Loại ít bị nhiễm độc từ các chất hóa học nhất: Hành, bơ, ngô ngọt, dứa, xoài, măng tây, kiwi, chuối, bắp cải, súp lơ xanh, cà tím.

Chất xơ trong rau, quả, các loại hạt họ đậu và ngũ cốc nguyên cám cũng có tác dụng giảm nguy cơ ung thư và làm chậm quá trình phát triển của các tế bào ung thư. Các chất xơ có tác dụng: kìm hãm hoạt động của hợp chất chứa độc tố và sinh chất ung thư, giảm lượng hóc-môn thúc đẩy sự phát triển của ung thư vú, giảm nguy cơ béo phì (đặc biệt ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh). Theo một kết quả nghiên cứu, chế độ ăn nhiều chất xơ giúp những phụ nữ tuổi mãn kinh giảm 42% nguy cơ mắc ung thư vú.

Những nguồn thực phẩm giàu chất xơ gồm hoa quả: Táo, chuối, dâu tây, dâu xanh, dưa đỏ, quả sung, bưởi, nho, ổi, kiwi, cam, lê, hồng vàng, mận tím. Ngũ cốc: đậu đen, đậu đỏ, lúa mạch, đậu garbanzo, ngũ cốc nguyên cám, gạo lức, gạo đỏ, gạo trắng, yến mạch, bột mì bulgur, quinoa. Rau: attiso, củ cải đường, lơ xanh, cải brussel, cà rốt, cải xoăn, đậu Hà Lan, đậu lima, rau bina, khoai lang.

Chế độ ăn ít béo - Chủ yếu là các chất béo có lợi

Chế độ ăn ít béo hơn bình thường có thể giảm nguy cơ mắc ung thư vú tới 24%, nguy cơ tái phát chứng ung thư vú lệ thuộc vào thụ thể estrogen âm tính (ER-) giảm 42% - ngược lại, nguy cơ mắc ung thư vú ở những phụ nữ có chế độ ăn nhiều chất béo hơn mức bình thường từ 35-39% cũng cao hơn 31% so với phụ nữ khác. Chế độ ăn nhiều chất béo làm tăng lượng estrogen, kéo theo nguy cơ phát triển ung thư vú, tuy nhiên nguy hiểm của chất béo không phải ở hàm lượng chất béo mà là cách sử dụng các loại chất béo như thế nào. Cụ thể là (theo thứ tự ưu tiên): (1) càng ít béo càng tốt, (2) hạn chế mỡ động vật, (3) tránh các chất béo hydro hóa, (4) tăng cường sử dụng dầu ôliu, dầu hạt cải, dầu hạt hạnh và dầu hạt macadamia khi nấu ăn và trộn salad và (5) tăng cường bổ sung axit béo omega-3.

Lượng đường giới hạn

Những loại thực phẩm nhiều đường có xu hướng làm tăng isulin và IGF-I (tác nhân tăng trưởng giống isulin-like growth factor - IGF-I) được chứng minh là thúc đẩy sự phát triển của các tế bào ung thư, thúc đẩy sự phát triển của các khối u tại tuyến vú. Theo kết quả nghiên cứu, nguy cơ ung thư vú ở những phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh có tỷ lệ cao hơn những phụ nữ có mức IGF-I thấp hơn tới 310%. Chế độ ăn nhiều chất có chỉ số đường cao sẽ làm tăng hàm lượng isulin và hóc-môn sinh dục của cơ thể, điều này góp phần làm phát triển ung thư vú cũng như phát tán tế bào ung thư khắp cơ thể.

Đảm bảo chế độ ăn nhiều chất xơ, hạn chế thực phẩm đóng hộp, ít béo và tỷ lệ chất béo omega-3 cao, kết hợp với tập thể dục và duy trì cân nặng.

Chế độ uống lành mạnh

Bên cạnh chế độ ăn, một chế độ uống lành mạnh cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Trước tiên bạn cần tránh các đồ uống có cồn. Thực ra, đồ uống có cồn không có nhiều tác động đáng kể nhưng ít nhất nó làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Theo kết quả một nghiên cứu gần đây, nếu mỗi ngày phụ nữ chỉ uống một nửa ly rượu cũng làm tăng nguy cơ bị bệnh lên 6% (ở phụ nữ tuổi mãn kinh là 18%), nếu uống từ 1-2 ly nguy cơ mắc tăng thêm 21%, nếu trên 2 ly thì tăng 37%.

Trà xanh: Theo một nghiên cứu với những phụ nữ Nhật Bản - quốc gia có truyền thống trà đạo nổi tiếng, những phụ nữ mỗi ngày uống 3 cốc trà xanh, nguy cơ tái phát ung thư vú giảm 30%. Lý do ngưng quá trình phát triển của tế bào ung thư là hàm lượng chất chống ôxi hóa epigallocatechin-3-gallat (EGCG) có khả năng làm ngưng quá trình phát triển của các tế bào ung thư.

Quả lựu: Tất cả những gì có trong trái lựu đều có tác dụng chống ung thư vú tuyệt vời. Kết quả nghiên cứu cho thấy: dầu hạt lựu và nước hạt lựu lên men có thể ngăn chặn quá trình cung cấp ôxi cho các tế bào ung thư, làm chậm quá trình phát triển của tế bào đó. Dầu hạt lựu có khả năng phòng chống ung thư vú tới 87% và nước ép lên men là 42%.

Hạt lanh và vừng: Có hàm lượng lignan cao nhất trong các loại thực vật. Lignan là một loại estrogen thực vật yếu hơn các estrogen trong cơ thể, có tác dụng hạn chế các tác động của estrogen, giảm lượng cholesterol có hại trong cơ thể. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Y khoa và Sức khỏe Pháp, những người thu nhận nhiều lignan từ chế độ ăn uống có nguy cơ ung thư vú thấp hơn 17% so với những người thu nhận ít lignan. Ngoài hạt lanh, các loại thực phẩm có hàm lượng lignan cao gồm trái cây, các loại rau họ cải, trà xanh, café và các sản phẩm tinh bột như bánh mì, bột ngũ cốc, mì và cơm.

Những thực phẩm nên hạn chế

Những người thường xuyên ăn thịt nướng có nguy cơ phát triển ung thư vú nói riêng và ung thu nói chung cao gấp 5 lần so với những người thường ăn bằng cách nấu khác. Các nhà nghiên cứu cho rằng thịt rán và nướng sẽ giải phóng ra heterocyclic amine là một tác nhân gây nên ung thư.

Các loại thịt đỏ như thịt bò cũng làm tăng nguy cơ hơn các loại thịt trắng, cá.

Dưa muối, cà muối cũng cần được loại trừ khỏi thực đơn.

Nên hạn chế những thực phẩm có chứa chất tăng trưởng cao như trứng non, nầm dê, giá đỗ...do những thực phẩm này kích thích các tế bào phát triển trong đó có tế bào ung thư.

Theo