Thị, ba mươi bảy. Nhóc Giẳng, mười bảy. Trai mười bảy bẻ gẫy sừng trâu. Gái ba mươi bảy đang thì hồi xuân. Ấy là nói đại để vậy thôi. Chứ nhóc Giẳng đang tuổi dậy thì vậy mà còi cõm như cái cọc rào.
Lại thêm bệnh hen suyễn, động trở giời là nằm cò cử thổi kèn tây. Đất này đàn ông có thể làm nên chuyện đổi đời, nghèo khó có trở nên đủ ăn, thậm chí sung túc, giàu có, phải dựa vào sức vóc. Cũng vậy thôi. Thị Nhi là cái đầu thừa đuôi thẹo ở cuộc đời này. Trên đất này, đàn ông cả ngày chui rúc dưới hầm hố đào bới, có thể thành ông hoàng bà chúa, cũng có thể chết mất xác trong chốc lát, thì còn thú vui gì hơn là đêm về được hú hí với đàn bà.
Đã có đàn ông thì tất phải có đàn bà. Càng lao lực đàn ông càng cần đàn bà để giải khuây, giải buồn, giải đen. Quy luật vậy mà vẫn có phàm lệ. Tiếc thay, phàm lệ lại rơi vào Thị Nhi. Ấy là bởi Thị Nhi xấu quá. Đàn bà nếu không có dáng người vượng phu ích tử nhân hình diện mạo đôn hậu, cân phân, đầy đặn thì cũng nên có dáng chủ về làm ăn sinh kế tần tảo. Tối kỵ là có dáng cô thần. Dáng cô thần thuộc hạng tiện tướng, ác cái, lại chính là dáng của Thị Nhi. Mắt trắng dã. Mũi hếch. Mồm vẩu. Mày dựng đứng. Mặt đầy tàn nhang. Lưỡng quyền cao. Giọng á thanh khàn rè. Đã thế lại chân thấp chân cao. Diện mạo, thân hình tiên thiên bất túc thật chẳng được nét nào đáng gọi là đàn bà.
Thị Nhi quê ở Thái Bình. Bị chồng bỏ năm mười chín tuổi. Thị lên đất này thoạt đầu giúp việc cho ông Pào người Xã làm thuốc bắc ở Pao Mao Phìn. Lửa gần rơm, ít lâu sau, ông Pào và Thị ăn ở với nhau như vợ chồng. Nhà ông Pào ở cách bãi vàng Nà Rì chưa đầy cây số.
Bãi vàng Nà Rì, nơi cơ may chẳng chọn người! Chứng cớ là tuần trước, lão Luông tự xưng đại úy đặc công phục viên rách như tổ đỉa lên đây thoạt đầu chỉ là anh làm thuê cho bưởng, một đêm nằm mộng thấy mình đội mũ bình thiên, mặc áo thêu rồng phượng, ngồi trên xe tam mã, cửa rủ rèm tua vàng; sáng sau vào lò, đào được cục đá nặng trịch to bằng cái mũ cối, ôm về, lái vàng xô đến, chẳng hiểu trong có những gì mà bán được một tỷ hai, phút chốc đổi đời lên ngôi bưởng trưởng, chủ sở hữu cả chục lò vàng.
Thị Nhi lên đây cơm nước phục vụ bưởng Luông. Thằng nhóc Giẳng quê cũng Thái Bình, sống cầu bơ cầu bất, theo người làng lên đây, cũng làm thuê cho bưởng Luông. Cả hai chưa bao giờ nằm ngủ mộng mị thấy mình là hoàng hậu công chúa, quan lớn quan bé gì. Ngày ngày chỉ mong đủ ba bữa cơm no, mùa nào có quần áo nấy và sống vui vẻ trong tình người thương mến lẫn nhau.
Thành ra, cuối cùng theo quy tắc vạn vật kết đôi, hai cái đồ dư thừa là Thị Nhi và Nhóc Giẳng đã gặp nhau. Tất nhiên, vạn sự khởi đầu đâu có dễ. Buổi chiều ấy, bãi vàng vắng ngắt, Thị Nhi đang rửa bát trong lán thì thằng Nhóc Giẳng xấn tới ôm eo. Thị giẫy ra, trợn mắt sưng sỉa. Đôi bên giằng co mắng nhiếc nhau thậm tệ. Không ngờ, nhoáng cái thằng Nhóc chầy cối đã ôm được Thị, lại ép được Thị vào vách lán, làm rung cả căn lán lợp lá gồi.
Cũng lại không ngờ bập vào nhau rồi mới thấy khăng khít, keo sơn quá. Mới thấy rằng, cứ như có duyên nợ với nhau từ kiếp trước. Mới thấy rằng, từ đây chẳng thể rời xa được. Đêm đầu, trong gian bếp tăm tối thằng Nhóc Giẳng mãn nguyện quá. Xong cuộc, nó cười. Hỏi, nó bảo: Các cụ nói không sai, đã chơi gái phải chơi loại đã qua một hai đời chồng rồi mới đã. Thị quát: Nói nhảm! Thằng Nhóc lật Thị lên, bóp ngực Thị, kêu: Vú đằng ấy bự như hai quả dừa chứ kém gì, sao không mặc xu chiêng đệm mút vào trông cho nó bắt mắt. Thị quẫy: Ho hen gì, ông tướng chỉ được cái giả vờ. Nhóc Giẳng lại dằn thị xuống, áp hai tay vào cổ thị, gằn: Từ nay, cấm về với lão Pào đấy. Nhớ chưa!
Bây giờ thì đôi lứa cọc cạch này dính với nhau như nhựa. Thị Nhi như cây cối vào mùa trổ hoa. Xuân sắc trở lại, biến đổi từng nét thô kệch xấu xí trên gương mặt. Những nốt tàn nhang mờ dần. Mắt rờ rỡ sáng. Cặp môi hay múm mím như thiếu nữ e thẹn. Đôi chân tuy vẫn cái dài cái ngắn, nhưng dáng đi bỗng dưng ngay ngắn và xem ra dẻo dai hơn trước nhiều. Ấy thế, cái đôi chân bất thành nhân dạng ấy giờ đây nó mà quặp vào lưng thì Nhóc Giẳng như đang trên mình ngựa muốn hạ mã cũng đừng hòng. Tất nhiên, thằng Nhóc Giẳng cũng là tay chẳng vừa. Mọi khi, mỗi tuần Thị Nhi về với lão Pào một đêm. Còn bây giờ thì quên đi! Vì mới chập tối ông Nhóc đã mò tới. Sáng bửng nó còn lục đục ở trong buồng. Bưởng trưởng Luông đập cửa liếp, toang toang:
Dậy đi làm đi! Một vừa hai phải thôi. Đàn bà nó không thương mình như cơm gạo đâu, ông Nhóc!
Viên quản giáo mới ngoài hai mươi, không phải người đằm tính, dẫn Thị Nhi đến cho tôi hỏi chuyện, sau khi giới thiệu Thị với tôi anh ta bỏ mặc tôi, lừ lừ ngồi xuống chiếc ghế, kề bên một ô cửa sổ trổ ra một vùng hồ nước. Lúc này đang là mùa thu. Mặt hồ xanh biếc. Cây doi ven hồ đã kết từng chùm quả đỏ hồng. Ngồi đây, thi thoảng lại nghe thấy tiếng doi rơi dè dặt xuống mặt hồ và sau đó tiếng cá quẫy như một nốt nhạc buông tan biến vào không gian lặng tờ.
Thật tình khung cảnh chẳng thích hợp với cuộc trò chuyện về một tội ác và để khám phá cái gì đó ẩn sau nó cả. Nhất là khi nhìn người đàn bà nọ. Khỏi phải nói giờ đây Thị Nhi tiều tụy, xấu xí đến thế nào! Và nhìn chị, tôi cũng chẳng muốn kéo dài câu chuyện làm gì. Văn chương có điểm rơi của nó. Nó tối kỵ sự giản đơn. Mà những câu chuyện hình sự với sự vận động của ba đỉnh tam giác nhân vật: nạn nhân - hung thủ - người điều tra, vốn là điển hình của sự giản đơn lặp đi lặp lại. Nhìn người đàn bà, để câu chuyện kết thúc nhanh, tôi liền vào đề ngay:
- Chị Nhi này, tôi được biết chị bị kết án bảy năm tù. Anh Giẳng bị kết án ba năm tù. Như vậy là anh ấy ra tù trước chị. Giờ anh ấy ở đâu?
Một ánh nhìn trộm chớp qua mặt tôi. Thị Nhi gằm mặt, tay vân vê vạt áo và câu đáp nhẹ như một hơi thở của thị khiến tôi không khỏi giật mình:
- Chị Nhi, chị nói là...
- Vâng. Anh Giẳng anh ấy chết rồi. Anh ấy không chết vì sập lò. Anh ấy chết vì… suy tim và hen ạ.
Một khoảng lặng đột ngột xuất hiện và đọng lại giữa tôi và người đàn bà. Thật tình là lúc này chế ngự tôi là một nỗi buồn thê thảm đến mức tôi chẳng hề có ý định khơi lại câu chuyện thảm thương này làm gì. Nhưng anh quản giáo hình như thấy thế là chưa thỏa mãn yêu cầu nhà báo nên xoay người e hèm một tiếng. Và sau cái nhìn như nhắc nhở của anh thì Thị Nhi, bỗng ngước dậy nhìn tôi, ánh mắt run rẩy và rõ ràng là vô cùng sợ sệt:
- Thưa ông, hay là con có tội gì nữa nên mới phải lên gặp ông?
Ngạc nhiên, tôi lặng đi mấy giây, rồi nhíu mày, cắn môi:
- Sao chị lại hỏi tôi thế? Tôi chỉ muốn hỏi những chuyện gì đã xảy ra trong đời chị thôi.
- Thưa ông. Con quê ở Thái Bình. Ba mươi lăm tuổi, con gửi hai đứa con không cha ở làng, lên bản Pao Mao Phìn khai hoang. Ở đây, thoạt đầu con giúp việc cho nhà ông Pào làm thuốc bắc. Ông Pào sáu mươi lăm tuổi. Nhưng người to khỏe lắm. Ông đã có hai đời vợ. Cả hai, nghe nói, một bị ông bóp cổ chết vì ngoại tình. Một bị ông trói đánh đến què quặt phải trốn đi cũng vì có tình ý với một anh sơn tràng. Ông Pào hung hãn lắm. Uống rượu sâm và thuốc kích thích vào là ông hành con suốt đêm. Ông có tật, vừa ngủ với con vừa cào cấu, cắn xé, đánh đập con. Con không có tình yêu với ông Pào!
- Không có tình yêu với ông Pào!
Khi nhìn thấy những nét chia sẻ cảm thông trên gương mặt tôi thị liền gật đầu, tự tin và thong thả như đắn đo từng lời:
- Vâng, thưa ông, con không có tình yêu với ông Pào. Con chỉ có tình yêu với anh Giẳng thôi.
Thị Nhi xấu xí, tật nguyền, nghèo khổ không có tình yêu với ông Pào, thị Nhi chỉ có tình yêu với Nhóc Giẳng cọc còi, ho hen, trên răng dưới dép. Chao ôi! Tình yêu, cứ tưởng cái thứ tình cảm cao siêu ấy chỉ là thứ sở hữu đặc quyền của những ông hoàng bà chúa, của những công tử tiểu thư, của các bậc đại gia, các đấng thượng lưu tri thức, của những kẻ có học, chí ít cũng là của những kẻ có cơm no áo ấm, gia cảnh đề huề. Cứ tưởng nó là thứ đặc sản của một đời sống tinh thần thuộc đẳng cấp cao. Hóa ra là không phải. Hóa ra nó còn là thứ tình cảm của Thị Nhi và Nhóc Giẳng, hai cái cá thể thuộc tầng lớp dưới đáy xã hội, những kẻ sống lam lũ, lầm than, cơm chẳng đủ no, áo chẳng đủ ấm, bị coi là hạng tiện dân, không ai thèm để tâm tới. Hóa ra nó là tài sản chung của nhân loại. Nó là thuộc tính của những kẻ mang danh tính là con người!
Thị Nhi không có tình yêu với ông Pào. Ông Pào uống rượu sâm và thuốc kích thích có thể làm tình với thị suốt đêm. Nhưng sắc dục dẫu có đắm chìm đê mê cũng khác với tình yêu lắm. Bởi vì, nếu so ra thì thằng Nhóc Giẳng đâu có phải là loại đàn ông hèn kém.
Nhưng mà thằng Nhóc Giẳng vẫn khác ông Pào lắm. Ở thằng Nhóc là sự giao tình, là mối yêu đương. Còn ở ông Pào thì chỉ đơn thuần là các thao tác làm tình. Thế đấy! Có lần giao tình nào thằng Nhóc không bắt Thị khỏa thân. Ôi, cái thân xác trẻ chưa qua, già chưa tới tiên thiên bất túc ỏng eo cóc cách của Thị, đâu đã một lần được gã đàn ông nào nhìn ngắm và nâng niu! Vậy mà thằng Nhóc mỗi lần vậy là một lần hắn kêu rằng hắn đang ở trong mơ. Thôi thì đủ, vừa xuýt xoa khen Thị đẹp, vừa chằm bặp từng hồi, gọi Thị là nàng tiên, thề sẽ yêu Thị mãi mãi và nếu cần thì hắn sẽ chết trên bụng Thị.
Những lúc ấy Thị run rẩy từng đầu ngón tay ngón chân. Thị ghì lưng Giẳng, hổn hển gọi hắn là hòn ngọc hòn vàng của em, tình yêu của em. Y như ngôn ngữ vẫn thường thấy trong các pha lâm ly mùi mẫn của các vở cải lương diễm tình. Chà, ngôn ngữ nghệ thuật! Ngôn ngữ gì mà có khả năng lớn lao và kỳ diệu đến thế đấy! Nó lọt vào rồi ẩn nấp ở trong tàng thức ta từ lúc nào mà ta không biết. Rồi bất thình lình nó bật ra, nó khơi dậy xúc cảm, nó tạo nên hình ảnh và khái niệm trong ta. Và thế là ở bãi vàng này, Thị Nhi đã bắt gặp được tình yêu, đã tìm được hòn ngọc hòn vàng của mình. Đã có được một tình yêu, một tình yêu cao hơn cả lẽ phải, bất chấp cả logic, chẳng thèm tính đếm tới tuổi tác đời người.
Bây giờ, khi đã thâm nhập vào cái địa hạt thiêng liêng huyền bí và xa xỉ của đời sống tình cảm này, Thị Nhi như một kẻ khác lạ với chính mình. Trong Thị lúc nào cũng râm ran một nỗi khát muốn được dâng hiến, biếu tặng. Thị ân cần săn sóc Giẳng. Thị giặt quần áo cho hắn. Dành dụm khoản tiền công ít ỏi, nhịn ăn nhịn mặc, Thị mua thuốc lá cho hắn hút, sắm áo quần cho hắn mặc. Thị nấu món khấu nhục học được khi ở nhà ông Pào cho hắn ăn.
Một ngày không thấy mặt Giẳng, lòng dạ Thị bồn chồn như có lửa đốt. Tuần lễ Giẳng về quê chịu tang mẹ, Thị đứng ngồi không yên. Nồi cơm cạn quên rụt lửa. Rửa bát đánh vỡ liền mấy cái. Bưởng trưởng Luông liếc nhìn cái bụng phinh phính của Thị, chép miệng cau mày: “Thế kia rồi mà còn nổi chớp giông là sao!”. Thị bỏ ngoài tai. Ôi, tình yêu! Tình yêu giữa đàn ông và đàn bà. Tình yêu giữa Giẳng và Thị Nhi ! Sao lại có thứ tình cảm vừa say đắm vừa thanh tân mà lại trong lành thuần khiết đến thế!
Đắm chìm vào cái địa hạt bí ẩn lạ lẫm này, quả thực Thị Nhi như kẻ nhập đồng mê man. Thị chẳng nhớ gì nữa. Thị rơi vào trạng thái hoang mê, lú lẫn mù mờ. Chứng cớ là Thị quên bẵng ông Pào, kẻ xét về hôn nhân thực tế là chồng Thị. Ông Pào năm lần bẩy lượt nhắn lên bãi vàng gọi Thị về, Thị lờ tịt. Lờ tịt hay khuây quên cho đến khi ông Pào xồng xộc lên, tay cầm cuộn dây thừng và cái gậy: Mẹ mày, có mông có má, có vú có ví rồi động cỡn, hả! Ông Pào quát rồi xắn tay áo: Mày muốn sống hay muốn chết, hở con đĩ già!
Ngoài hồ vọng lại tiếng cá quẫy. Viên quản giáo thấy người đàn bà tội phạm và tôi im lặng lâu quá, sốt ruột nhắc:
-Thế nào, chị Nhi, kể tiếp mọi việc đã xảy ra cho nhà báo nghe đi!
Khép nép, mặt ngây ngây như đang trong hoài niệm, tù nhân nữ ngẩng lên nhìn viên quản giáo, rồi cúi xuống khẽ khàng:
- Dạ, thưa ông, ông bảo con kể gì ạ.
- Anh nhà báo đây muốn hỏi xem chị đã mưu mô giết hại ông Pào chồng chị như thế nào?
Quay mặt đi, hai gò má cao của người đàn bà nháng ánh nước. Chị đưa mu tay lên xoa xoa:
- Dạ thưa ông, lúc này con chẳng nhớ gì nữa ạ. Vâng, con quên hết cả rồi, con chẳng nhớ gì nữa ạ!
- Chị quên rồi, hả! Thế thì để tôi nhắc lại cho chị nhớ nhé!
- Dạ…
- Thế này. Từ bãi vàng về với ông Pào được hai hôm thì thằng Giẳng mò đến nhà chị. Lúc ấy ông Pào đi hút thuốc phiện ở nhà bà góa A Lìu. Chị và Giẳng bàn bạc cùng nhau những gì. Lát sau ông Pào về. Chị dọn cơm lên cho ông ấy ăn. Có món trứng vịt rán. Ngon miệng, ông Pào ăn hết cả đĩa. Có biết đâu đó là trứng chị đã trộn với gan cóc, trứng cóc và nước lá ngón. Ăn xong, ông Pào ôm bụng quằn quại kêu đau. Thế là chị kinh hoàng kêu gọi hàng xóm sang đưa ông đi bệnh viện. Có phải thế không?
- Dạ.
Người đàn bà tội phạm giật thót mình, bật tiếng.
- Đúng là chị đã mưu toan giết ông Pào!
- Dạ.
- Chị có thấy đó là một tội ác ghê tởm không? May mà ông Pào được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời. Hứ! Thật là đàn bà dễ có mấy tay! Còn bây giờ chị trả lời cho nhà báo biết đi, tại sao chị giết ông Pào?
- Dạ.
- Chị nói đi! Có gan ăn cắp thì có gan chịu đòn. Huống hồ... Quanh tôi lúc này là một khoảng lặng không đáy. Nói gì nữa lúc này, khi lát sau người đàn bà tiều tụy, gầy mòn xác xơ, một thân hình khô héo, sau những chấn động thê thảm ở đời, lã chã nước mắt, thở không ra hơi, lập bập:
- Dạ… thưa hai ông. Con sợ ông Pào giết con! Với lại, thật tình là con đã yêu anh Giẳng. Con yêu anh Giẳng! Con yêu anh Giẳng thật lòng! Con yêu điên rồ, con yêu mê dại, con mù quáng. Vâng, con mù lòa, con mong các ông đèn giời soi xét! Ôi, anh Giẳng ơi… sao anh lại bỏ tôi bơ vơ một mình… thế này…