. Xin cho biết triều đại nào đã xác lập chủ quyền đầu tiên của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa? Việc cắm mốc chủ quyền diễn ra như thế nào?
+ Căn cứ theo luật pháp quốc tế cuối thế kỷ XIX, chủ quyền thật sự của một quốc gia đối với lãnh thổ của mình phải mang tính nhà nước và phải có dấu hiệu chiếm hữu thực sự, chứ không phải trên danh nghĩa, bằng nhiều hình thức trong đó có việc cắm cột mốc, thể hiện quyền lực của nước đó bằng con đường hòa bình...
Suốt ba thế kỷ, từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XIX, chúa Nguyễn đã thành lập một tổ chức dân binh là đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải, hoạt động tại hai quần đảo này, vừa có nhiệm vụ kiểm soát, vừa khai thác tài nguyên. Những hoạt động này tuy chỉ dừng ở mức độ khai thác sản vật nhưng cũng đã mang tính nhà nước.
Mãi đến năm 1816, vua Gia Long - vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, đã ra lệnh cho thủy quân của triều đình ra thăm dò, đo đạc thủy trình, nhất là cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền đầu tiên theo phương cách của phương Tây hồi bấy giờ trên quần đảo Hoàng Sa. Lúc đó mới chính thức xác lập chủ quyền của Việt Nam tại đây.
Các đời vua Nguyễn sau đó như Minh Mạng, Thiệu Trị... vẫn tiếp tục thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này được ghi lại trong các bộ chính sử như Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam thực lục chính biên hay các sách địa lý như Hoàng Việt địa dư chí, Đại Nam nhất thống chí,... Các văn bản nhà nước mang tính pháp lý quốc tế thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này phải kể đến sách Hội Điển, các châu bản từ thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị. Mới đây, chúng ta cũng đã tìm thấy văn bản (tờ cấp bằng của quan Bố chánh, Án sát tỉnh Quảng Ngãi) tại huyện đảo Lý Sơn cùng châu bản có chữ ký của vua Bảo Đại về việc khen ngợi những người có công lao bảo vệ Hoàng Sa.
Từ năm 1836, dưới thời vua Minh Mạng, việc thủy quân đi thám sát, cắm mốc bằng gỗ, dựng bia chủ quyền trở thành thông lệ hằng năm. Thủy quân với sự hỗ trợ của dân binh vẫn thực hiện việc này cho đến khi Pháp xâm lược nước ta mà không hề có sự phản đối nào từ phía Trung Quốc. Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn còn ghi: Năm 1753, chính quyền Quảng Đông bắt được hai dân binh Hoàng Sa trôi dạt đến cảng Thanh Lan, Hải Nam của Trung Quốc. Sau khi tra xét biết được là lính của đội Hoàng Sa làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, đã đối xử tử tế rồi trả về. Chính quyền chúa Nguyễn sau đó đã viết thư cảm ơn...
Mãi đến năm 1909, chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) mới cho khảo sát Tây Sa (tức Hoàng Sa) và tuyên bố đây là đất vô chủ. Lúc đó vì Việt Nam đã đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp nên không thể phản đối. Trong khi, Pháp cũng chưa có phản ứng gì vì sợ mất quyền lợi. Nhưng đến những năm 1930, nước Pháp đã nhân danh chính quyền Việt Nam hành xử chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua việc xây đài khí tượng thủy văn và dựng bia chủ quyền, cho quân đội đến chiếm đóng...
Từ năm 1909 trở về trước, Trung Quốc cũng như các nước Đông Nam Á khác không có bất cứ bằng chứng nào về việc xác lập chủ quyền của nhà nước trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc một nước nào đó có người qua lại với tính chất cá nhân hay phát hiện ra đồng tiền, sọ người... trên quần đảo này, về mặt luật pháp quốc tế, không có nghĩa là lãnh thổ đó thuộc chủ quyền của nước đó. Cũng như tại các di chỉ khảo cổ, thiếu gì những di vật, sọ người của nước ngoài (như Óc Eo, gò Đống Đa...) thì không có nghĩa nơi đó thuộc chủ quyền của các nước đó!