Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi

QĐND - 

QĐND - Nguyễn Trãi (1380 – 1442), tự là Ức Trai - một nhân tài kiệt xuất trong lịch sử nước ta, văn võ song toàn. Nói riêng thơ văn ông, một trong những nội dung nổi bật là tình yêu thiên nhiên say đắm, nồng nàn của bậc hiền nhân.

Thơ viết về thiên nhiên của Ức Trai chiếm phần lớn và cũng là những bài thơ hay nhất trong hai tập thơ của ông. Những dẫn chứng về thơ Nguyễn Trãi, trong bài viết này – đều theo tập “Thơ chữ Nôm” (do hai nhà nghiên cứu Trần Văn Giáp và Phạm Trọng Điềm phiên âm, chú giải, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội, xuất bản năm 1956) và tập “Thơ chữ Hán” (do các nhà Hán học uyên thâm: Phan Võ, Lê Thước và Đào Phương Bình dịch, NXB Văn hóa, Hà Nội, xuất bản năm 1962).

Thiên nhiên thấm đẫm cảm xúc, tâm hồn thi nhân Nguyễn Trãi. Thiên nhiên nước ta, qua con mắt nhà thơ Nguyễn Trãi, hiện lên rất đa dạng, sinh động, có sức sống riêng. Đứng trước một cảnh vật, từ những cảnh tượng hùng vĩ như Vân Đồn, cửa bể Bạch Đằng, cửa bể Thần Phù, đến những cảnh bình dị như một ánh trăng, một buổi chợ, một bông hoa nở, một nõn chuối, một luống mồng tơi, hay một tiếng chim kêu,... tất cả đều gợi lên trong tâm tưởng Ức Trai những tứ thơ mênh mông, lai láng, những khoảnh khắc say sưa, nồng nhiệt. Thật đúng là Nguyễn Trãi đã có một mối tình với thiên nhiên, như ông viết: Non nước cùng ta đã có duyên (Tự thán-4). Ông đã biểu hiện thiên nhiên ấy với nhiều màu sắc, đường nét, âm thanh. Thiên nhiên ấy mang hồn người, mang tư tưởng, tình cảm của nhà thơ.

Hãy xem phong cảnh của vùng núi Vân Đồn (nay thuộc tỉnh Quảng Ninh): Lộ nhập Vân Đồn san phục san/ Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan/ Nhất bàn lam bích trừng minh kính/ Vạn hộc nha thanh đọa thúy hoàn” (Vân Đồn); dịch nghĩa: Đường vào Vân Đồn núi rồi lại núi/ Trời bầy đất đặt nên áng kỳ quan/ Một mâm lam biếc, (nước) lắng tấm gương trong/ Muôn hộc đen xanh, (núi) bỏ xõa mái tóc màu thúy. Còn đây là những nét phác họa hết sức tài tình về vẻ đẹp hùng vĩ của cửa bể Bạch Đằng – nơi diễn ra những chiến thắng vang dội của Ngô Quyền chống quân Nam Hán và Trần Hưng Đạo đánh tan giặc Nguyên - Mông: Gió bấc thổi mặt biển, thế nước lên cuồn cuộn/ Giương cánh buồm thơ nhè nhẹ lướt qua sông Bạch Đằng/ Như cá sấu bị chặt, cá kình bị phanh, núi uốn quanh co/ Như cây giáo chìm, như chiếc kích gẫy, bờ xây lởm chởm... (Bạch Đằng hải khẩu). Bài thơ toát lên lòng tự hào của Nguyễn Trãi về truyền thống dân tộc kiên cường chống giặc ngoại xâm. Và đây là cảnh trí thơ mộng nhưng không kém phần hùng tráng của cửa bể Thần Phù (thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa): Thần Phù qua đó, lúc đêm khuya/ Gió mát trăng thanh cảnh tuyệt kỳ/ Măng mọc nghìn đầu, non dựng đứng/ Rắn xanh một dải, nước quanh đi/... (Thần Phù hải khẩu). Còn đây nữa, cảnh đẹp núi Dục Thúy (ở Ninh Bình): Cửa biển có núi tiên/ Năm xưa thường đi về/ (Như bông) Hoa sen nổi trên mặt nước/ Cảnh tiên sa xuống trần gian/ Bóng tháp như cái trâm ngọc xanh cài vào/ Món tóc biếc chiếu trong làn sóng/... (Dục Thúy sơn).

Có những khi thiên nhiên làm cho nhà thơ ngây ngất, cảm hứng của tác giả càng dạt dào, mãnh liệt. Và, cũng như Lý Bạch (nhà thơ nổi tiếng đời Đường - Trung Quốc), Nguyễn Trãi tha thiết với trăng. Trăng tạo nên tứ thơ phóng khoáng, tự do, nâng tâm hồn nhà thơ lên đến tột đỉnh của cảm xúc: Góc biển bên trời mặc ý ngao du/ Trong cõi kiền khôn, đến đâu cũng phóng tầm mắt thơ/ Hát chài cất lên ba lần, mặt hồ có khói thêm rộng mênh mông/ Sáo mục đồng thổi lên một tiếng, mặt trăng trên không càng lên cao vút/ Đêm thanh dựa vào khoảng không ngắm xem vũ trụ/ Gió thu thổi thừa hứng cưỡi lên cá kình, cá ngao/ Sau khi muôn việc đã thoáng quên/ Lẽ màu nhiệm thật đáng đưa vào chén rượu đục (Chu trung ngẫu thành). Đặc biệt, trong bài “Côn Sơn ca”, bằng những nét tả thực rất sinh động, ta thấy nhà thơ chan hòa trong cảnh trí thiên nhiên tươi đẹp, với nhiều màu sắc, âm thanh tươi tắn, rộn ràng: Côn Sơn nước chảy rì rầm/ Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai/ Côn Sơn có đá rêu phơi/ Ta ngồi trên đá, như ngồi chiếu êm/ Trong ghềnh, thông mọc như nêm/ Tìm nơi bóng mát, ta lên ta nằm/ Trong rừng có trúc bóng râm/ Trong màu xanh mát, ta ngâm thơ nhàn/....

Ở thế kỷ XV, văn học viết của ta đang trên đà xây dựng và phát triển, Nguyễn Trãi đã tìm tòi một thể thơ mới cho dân tộc, để thoát khỏi ảnh hưởng của thơ Đường, thơ Tống. Trong thơ chữ Nôm, ông tạo nên thể thơ lục ngôn, với những câu thơ 6 chữ, mới lạ so với đương thời: Dò trúc, bước qua lòng suối/ Tìm mai, theo đạp bóng trăng (Tự thán-7); hoặc: Rỗi hóng mát, thủa ngày trường (Bảo kính cảnh giới-43);... Về ngắt nhịp trong câu thơ thất ngôn, nhiều khi ông không theo nhịp 4/3 như trong thơ Đường, thơ Tống, mà ngắt nhịp rất tự do, phóng khoáng, tùy theo cảm xúc. Ví như ngắt nhịp 2/2/3: Khách đến/ chim mừng/ hoa xảy động/ Chè tiên/ nước kín/ nguyệt đeo về (Thuật hứng–3). Nguyễn Trãi dùng nhiều từ láy – một hình thức độc đáo, sinh động của ngôn ngữ dân tộc: Hương cách gác vân, thu lạnh lạnh/ Thuyền kề bãi tuyết, nguyệt chênh chênh (Bảo kính cảnh giới-31). Nguyễn Trãi có những câu thơ diễn tả một niềm vui thanh thoát, tế nhị, kín đáo mà tứ thơ rất mới lạ, đáng để chúng ta ngày nay phải... “giật mình”, kính nể. Ví như ông tả nõn chuối: Tình thư một bức, phong còn kín/ Gió nơi đâu, gượng mở xem (Ba tiêu). Ở đây, trí tưởng tượng của nhà thơ thật kỳ diệu.

Thơ thiên nhiên của Nguyễn Trãi thể hiện lòng lạc quan, yêu đời, yêu cuộc sống của nhà thơ. Nó khẳng định chỗ đứng của Nguyễn Trãi ở giữa cuộc đời, trong lòng nhân dân, không hề thoát tục.

Minh Thành

Tin mới