Thị trường logistics: dư địa còn rất lớn

Xem tin gốc 

VIR - 24 tháng trước 248 lượt xem

(baodautu.vn) Tại Hội nghị Bán lẻ - Kho vận – Phân phối lần 2 vừa diễn ra tại TP.HCM, ông Gopal R, Giám đốc Bộ phận Vận tải và Kho vận Công ty Frost & Sullivan cho rằng, tiềm năng của ngành logistics Việt Nam rất lớn, nhưng các doanh nghiệp trong nước chưa khai thác được.

Hiện tại, các doanh nghiệp trong nước mới đáp ứng được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, phần còn lại do các công ty logistics nước ngoài nắm giữ. Thực tế trên khiến nhiều tập đoàn logistics lớn trên thế giới đã và đang tìm cách có mặt tại Việt Nam. Mở đầu là liên doanh Tân Cảng Cypress của Công ty Tân Cảng Sài Gòn và Công ty Sun Cypress Shipping Company Limited (Hong Kong). Tháng 5/2010, ITL Keppel Tanimex - một công ty cổ phần do Tập đoàn Indo Trans Logistics (Việt Nam) và Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Tân Bình (Việt Nam) thành lập, ra mắt với vốn ban đầu 8 triệu USD.

Mới đây nhất, ngày 17/6, liên doanh DHL-VNPT đã chính thức khai trương Trung tâm Dịch vụ chuyển phát nhanh Tân Sơn Nhất, với vốn đầu tư 5 triệu USD. “Doanh nghiệp Việt Nam cần tranh thủ khả năng liên doanh với đối tác nước ngoài để mở rộng thị trường và đầu tư nâng cấp chất lượng phục vụ khách hàng”, ông Gopal R nói.

Trên thực tế, cơ sở hạ tầng phục vụ hoạt động logistics tại Việt Nam còn kém phát triển, chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường. Hệ thống giao thông đường bộ kết nối các cảng biển, kho bãi, sân bay... chưa đồng bộ, khiến chi phí logistics của doanh nghiệp nội địa gia tăng.

Về công nghệ bốc xếp, trừ một số bến cảng như Chùa Vẽ (Hải Phòng), Tiên Sa (Đà Nẵng), Tân Cảng, VIC, Bến Nghé, Tân Thuận (TP.HCM) được trang bị một số phương tiện thiết bị xếp dỡ hiện đại, chuyên dụng, hầu hết các cảng biển Việt Nam chủ yếu sử dụng thiết bị bốc xếp thông thường, thô sơ. Năng suất xếp dỡ của các cảng ở Việt Nam bình quân mới đạt 8-10 container/giờ (bằng 1/3 so với các cảng trong khu vực). Vì vậy, chi phí vận tải biển, bốc xếp của Việt Nam tăng cao và chưa có tính cạnh tranh trong khu vực.

Ông Nguyễn Văn Uấn, Chủ tịch HĐQT, Giám đốc Công ty Tân Cảng Logistics cho rằng, đa số các công ty logistic nội địa có tốc độ phát triển rất nhanh, nhưng quy mô hoạt động vẫn nhỏ lẻ, chủ yếu đóng vai trò vệ tinh cung cấp dịch vụ cho các công ty nước ngoài, như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi. Bên cạnh đó, có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, nhất là cạnh tranh về giá (thi nhau giảm giá, nhưng không chú trọng nâng cao chất lượng dịch vụ) giữa các doanh nghiệp.

“Vào năm 2012, Việt Nam mở cửa 100% cho các công ty nước ngoài khai thác dịch vụ kho vận theo cam kết WTO. Đây là cơ hội hợp tác, nhưng cũng là thách thức với các doanh nghiệp logistics nội địa”, ông Nguyễn Văn Uẩn nhận định.

Theo ông Trịnh Ngọc Hiển, Phó chủ tịch Tập đoàn HB, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành Công ty cổ phần Vinafco, phần lớn các doanh nghiệp logistics nội địa đều có nguồn gốc từ các xí nghiệp vận tải nhà nước, nên chưa linh hoạt trong hoạt động kinh doanh. Chỉ xét về khía cạnh xây dựng website, phần lớn website của Việt Nam chỉ đơn thuần giới thiệu về bản thân và dịch vụ của mình, thiếu các tiện ích như công cụ theo dõi đơn hàng, theo dõi lịch trình tàu, booking, theo dõi chứng từ... Trong khi đó, đây lại là những yếu tố được các chủ hàng đánh giá rất cao khi họ lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics.

Ngoài ra, theo ông Hiển, tính liên kết của các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu. Vì vậy, đã đến lúc, các doanh nghiệp logistic Việt Nam cần hợp tác để có thể đưa ra thị trường một chuỗi các dịch vụ logistics tổng thể cho khách hàng. Theo đó, một công ty giao nhận có thể liên kết với một công ty về kho bãi, về vận tải, môi giới, hàng không để tạo thành một chuỗi liên kết chặt chẽ.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang