Dầu:
Cùng với những xáo trộn mạnh trên thị trường tài chính, thị trường dầu mỏ trải qua một năm đầy sóng gió, có một không hai trong lịch sử. Giá dầu chưa bao giờ lại biến động mạnh tới vậy trong một thời gian ngắn. Khi mà giá “vàng đen” đạt đỉnh cao mọi thời đại 147,27 USD vào tháng 7, để rồi sau đó rớt một mạch hơn 100 USD/thùng, tương đương mức giảm hơn 70%, trong vòng có 4 tháng, về ngưỡng dưới 35 USD/thùng vào cuối tháng 12.
Các nhà phân tích cho rằng việc giá dầu tăng vọt từ cuối năm 2007 lên tới mức đỉnh vào giữa tháng 7 là do lo ngại về nguồn cung cả ngắn và trung hạn, những bất ổn về địa chính trị và khả năng khai thác giảm sút tại các nước xuất khẩu dầu mỏ ngoài OPEC. Ngoài ra, hoạt động mua đầu cơ coi dầu như là mặt hàng mà các quỹ đầu tư mạo hiểm trú ẩn trong lúc đồng USD mất giá và lạm phát lên cao cũng là nguyên nhân đẩy giá dầu tăng. Thêm vào đó, giới đầu tư lúc đó cũng coi thị trường nguyên liệu là nơi lý tưởng để bảo toàn nguồn vốn khi thị trường cổ phiếu và trái phiếu suy yếu.
Tuy nhiên, việc đồng USD lên giá kể từ tháng 8 được coi như thời điểm đánh dấu sự đảo chiều của giá dầu, dù thị trường tài chính khủng hoảng cũng là một nhân tố khác khiến giá dầu suy giảm. Sang đến tháng 10 thì rõ ràng là cuộc khủng hoảng tài chính đã làm kinh tế toàn cầu chậm lại và tác động tiêu cực đến thị trường dầu mỏ. Khi giá dầu còn lơ lửng ở mức 100 USD/thùng, OPEC đã nhóm họp với luận điểm cho rằng, nạn đầu cơ, căng thẳng địa chính trị và hiện tượng thắt cổ chai trong lọc dầu là những nguyên nhân đẩy giá dầu lên cao nửa đầu năm 2008, đồng thời cảnh báo nguồn cung dầu đã cao hơn nhu cầu. Trong 3 tháng 9, 10 và 12, OPEC đã nhóm họp cùng nhau cắt giảm sản lượng lần lượt 500 triệu thùng, 1,5 triệu thùng và 2 triệu thùng nhằm ngăn chặn đà mất giá của dầu. Nhưng động thái này đã không thể ngăn đà đi xuống của dầu trong bối cảnh nhu cầu yếu như hiện nay. Và dù OPEC có tiếp tục cắt giảm sản lượng thì thị trường dầu thế giới trong năm 2009 có thể vẫn sẽ tiếp tục thừa cung, vì nhu cầu giảm mạnh.
Vàng:
Năm 2008, vàng đã chiếm một vị trí đặc biệt đối với các nhà đầu tư trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đi xuống. Giá vàng thế giới đã có những đợt biến động mạnh nhưng có thể quy về hai xu hướng chính: một là liên tiếp đạt mức cao kỷ lục trong nửa đầu năm, hai là duy trì ở mức thấp trong thời gian dài ở nửa cuối năm. Tính chung cả năm, vàng vẫn đạt mức tăng và là năm tăng giá thứ 8 liên tiếp.
Nửa đầu năm, vàng được coi là nơi tránh bão an toàn số một trong mắt các nhà đầu tư trong bối cảnh lạm phát leo thang, đồng USD trượt giá và sự đổ vỡ của các thể chế tài chính lớn. Những ám ảnh về bóng đen lạm phát đe dọa cả thế giới khiến giá vàng liên tục lập được các kỷ lục mà đỉnh cao mọi thời đại của nó là vào ngày 17/3 khi vàng đạt tới 1.033,90 USD/ounce ngay sau vụ tan rã của tập đoàn Bear Stearns trên phố Walls.
Sang nửa cuối năm, ưu thế của vàng với tư cách là nơi trú ẩn an toàn của vốn trong thời kỳ khủng hoảng đã giảm dần. Cuộc khủng hoảng tài chính đã len lỏi khắp thế giới khiến cho kinh tế toàn cầu đi xuống một cách nhanh chóng. Những lo ngại về thể trạng kinh tế đã ản hưởng mạnh tới triển vọng nhu cầu vàng, làm cho kim loại quý này quay đầu sụt giảm mạnh, có lúc chỉ còn quanh 700 USD/ounce. Những ngày cuối năm, nhờ chính sách nới lỏng tiền tệ của Mỹ tạo áp lực lên đồng USD đã giúp vàng dần hồi phục và đạt năm tăng giá thứ 8 liên tiếp.
Dự báo trong năm 2009, vàng vẫn sẽ có sức cuốn hút đáng kể đối với các nhà đầu tư trong năm 2009. Giá vàng năm tới dự đoán sẽ ở mức trung bình là 810 USD/ounce và sản lượng khoảng 2.476 tấn, tăng so với 2.400 tấn của năm nay và là năm tăng đầu tiên trong vòng 4 năm qua.
Thép:
Năm 2008, thị trường thép thế giới biến động mạnh, trong đó liên tiếp tăng mạnh trong nửa đầu năm và đầu quý III, nhưng bắt đầu từ tháng 8 giá thép không ngừng lao dốc do nhu cầu giảm trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sản lượng cũng do vậy mà giảm theo.
Theo số liệu của MEPS, cơ quan chuyên dự báo về thị trường thép của Anh, giá thép thế giới tại Sở giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) cuối tháng 6 năm nay ở mức 1.200 USD/tấn, FOB, tăng so với 691 USD/tấn cách đó đúng 1 năm. Giá phôi thép thời điểm này cũng đã tăng hơn 40% và liên tục trong tháng 6,7,8 giữ ở mức trung bình trên 1.000 USD/tấn. Tuy nhiên đến cuối tháng 12, giá thép và phôi trên thị trường thế giới đã giảm đi một nửa và đang có dấu hiệu tăng trở lại nhưng ở mức rất chậm. Tính chung cả năm 2008, giá thép thế giới vẫn giảm.
Về cung/cầu, sản lượng thép thế giới năm nay chỉ đạt 1,3 tỷ tấn, giảm 0,4% so với 1,34 tỷ tấn của năm ngoái, trong đó riêng quý IV sản lượng dự đoán giảm tới 16% và là mức giảm theo quý lớn nhất kể từ những năm 1970. Nhu cầu thép dự kiến ở mức 1,2 tỷ tấn, với mức tăng 3%, giảm so với mức tăng 8% của những năm trước.
Dự báo trong năm 2009, giá và nhu cầu thép trên thế giới sẽ tiếp tục ở mức thấp, dưới mức tăng trưởng GDP toàn cầu, trong nửa đầu năm 2009 do bức tranh kinh tế toàn cầu đầy ảm đạm. Nguồn cung thép trên thị trường sẽ tiếp tục ở mức thấp do triển vọng về giá và nhu cầu không sáng sủa.
Gạo:
Thị trường gạo thế giới năm 2008 biến động mạnh. Giá gạo tăng mạnh trong 5 tháng đầu năm, và giảm mạnh trong 7 tháng cuối năm. Tính chung trong cả năm, giá gạo thế giới tăng khoảng 20 - 40%.
Gạo trở thành mặt hàng tăng giá mạnh nhất trong số các loại hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2008 do nhu cầu xuất khẩu tăng, trong khi nguồn cung hạn hẹp bởi nhiều nước xuất khẩu lớn hạn chế hoặc cấm xuất khẩu.
Giá gạo Thái lan và Việt Nam, 5% tấm, FOB:
Trên thị trường Chicago, giá gạo thô đã lập kỷ lục cao 25,07 USD/cwt vào ngày 24/4, tăng 79% so với một năm trước đó. Trong khi đó tại châu Á, giá gạo lập kỷ lục cao vào ngày 22/5, với loại 5% tấm của Thái Lan đạt 1.090 USD/tấn, còn gạo cùng loại của Việt Nam đạt 1.050 USD/tấn, đều tăng gấp 3 lần so với một năm trước đó.
Nguyên nhân giá gạo tăng kỷ lục nhanh trong 5 tháng đầu năm bởi lạm phát tăng mạnh khiến chính phủ nhiều nước xuất khẩu gạo lớn phải hạn chế hoạch tạm dừng xuất khẩu gạo với hy vọng ngăn chặn xu hướng lạm phát.
Thị trường gạo thế giới hạ nhiệt từ cuối tháng 5, sau khi Việt nam và Thái Lan – hai nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới - bước vào vụ thu hoạch, và một số nước nới lỏng chính sách hạn chế xuất khẩu gạo. Hiện giá gạo thế giới đã giảm 20% so với thời điểm cao kỷ lục. Việc giá gạo quá cao cũng khiến nhiều người giảm tiêu thụ gạo, chuyển sang tăng cường ăn những loại lương thực khác. Xu hướng giảm giá không chỉ xảy ra ở thị trường gạo mà trên toàn bộ thị trường lương thực thế giới. Hiện giá lúa mì và ngô cũng chỉ bằng non nửa mức kỷ lục đã đạt được hồi mùa xuân.
Thị trường gạo thế giới dự báo chưa sớm khởi sắc bởi nguồn cung vụ cuối năm khá dồi dào, do nông dân tăng cường trồng lúa sau khi giá tăng kỷ lục cao hồi đầu năm. Tổ chức Nông - Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) ước tính sản lượng gạo toàn cầu năm 2008 tăng 1,8%, thêm khoảng 12 triệu tấn, làm gia tăng nguồn cung gạo tại một số quốc gia. Các nước trồng lúa từ châu Á đến châu Phi đều tăng cường trồng lúa sau khi giá gạo thế giới tăng kỷ lục khiến một số nước phải hạn chế xuất khẩu.
Đường:
Thị trường đường thế giới năm 2008 diễn biến phức tạp. Giá tăng mạnh trong hai tháng 3 và 8, theo xu hướng giá dầu mỏ. Tính chung trong cả năm, giá đường đã tăng khoảng 2%. Mía - nguyên liệu để sản xuất đường - cũng là nguyên liệu sản xuất ethanol - nhiên liệu sinh học. Do vậy, giá đường và dầu luôn có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Chỉ trong 2 tháng đầu năm, giá đường tăng 50% chủ yếu do giá dầu mỏ tăng mạnh và lượng mía dùng sản xuất ethanol từ đó cũng tăng theo. Ngày 7/3, đường đã tăng tới mức giá cao nhất của 19 tháng, 15,21 US cent/lb (đường thô tại thị trường New York, Mỹ), so với chỉ 10,73 US cent/lb hồi đầu năm. Nguyên nhân đầu tiên đẩy giá đường tăng chóng mặt như vậy là do sự mua ồ ạt của các quỹ hàng hóa và các nhà đầu cơ khi nhận thấy giá đường đang thấp hơn so với giá các hàng hóa khác trên thị trường như ngô và lúa mỳ. Nhưng bắt đầu từ tháng 3, giá giảm mạnh, giảm 25% chỉ trong vòng hai tháng rưỡi, bởi nguồn cung mía tăng lên sau khi giá tăng mạnh hồi đầu năm. Thị trường đường thế giới đã khởi sắc trở lại vào tháng 7- 8 theo xu hướng giá dầu mỏ, để sau đó lại giảm nhanh, mất 27% chỉ trong 4 tháng cuối năm cũng theo xu hướng giá dầu.
Tổ chức đường Quốc tế (ISO) dự báo niên vụ đường 2008/09, sản lượng đường thế giới có thể sẽ thấp hơn nhu cầu, nhưng ảnh hưởng của nó đến thị trường sẽ bị hạn chế do khối lượng dư thừa cung lớn của 2 vụ trước.
Cao su:
Thị trường cao su thế giới biến động mạnh trong năm 2008. Giá liên tục tăng trong 6 tháng đầu năm, thêm khoảng 50% so với hồi đầu năm, với cao su RSS3 tại Thái Lan đạt 327 US cent/kg vào ngày 30/6, trong khi cao su kỳ hạn tham khảo tại Tokyo lập mức kỷ lục cao của gần 28 năm, 356,7 Yên/kg. Nguồn cung cao su thiên nhiên trục trặc do mưa quá nhiều ở các khu vực trồng cao su chính ở Đông Nam Á, nhất là Thái Lan -nước sản xuất và xuất khẩu cao su lớn nhất thế giới. Các nhà đầu tư tiếp tục rót tiền vào thị trường hàng hóa khi mà thị trường chứng khoán thế giới trở nên bất an đã hậu thuẫn giá cao su cùng nhiều hàng hóa khác. Bên cạnh đó, giá dầu mỏ tăng mạnh và sự tăng trưởng nhanh của ngành sản xuất lốp xe, nhất là ở Trung Quốc và Ấn Độ, góp phần đẩy giá cao su liên tục tăng trong thời gian qua. Do giá liên tục tăng và nguồn cung hạn hẹp, các nhà sản xuất đã phải sử dụng phần lớn lượng dự trữ, và đến giữa năm lượng dự trữ của họ đã gần cạn kiệt.
Tuy nhiên Bắt đầu từ tháng 7, giá sụt giảm nhanh, bởi nhu cầu thấp, mặc dù nguồn cung cũng thấp do yếu tố thời tiết. Giá cao su giảm mạnh, mất 72% trong vòng 6 tháng cuối năm. Tính chung trong cả năm, giá cao su thiên nhiên đã giảm khoảng 48%. Kinh tế thế giới suy yếu tác động mạnh tới ngành ô tô toàn cầu, đang làm giảm nhu cầu tiêu thụ cao su.
Cao su chủ yếu được sử dụng chủ yếu làm lốp xe. Theo Hiệp hội các nhà chế tạo lốp ô tô Nhật Bản, sản lượng lốp của nước này năm 2009 dự kiến giảm 5%, xuống tương đương sử dụng 1,28 triệu tấn cao su, so với 1,35 triệu tấn năm 2009. Việc giá dầu mỏ thấp cũng gây sức ép lên giá cao su thiên nhiên, bởi khó cạnh tranh hơn với cao su tổng hợp - là sản phẩm của dầu mỏ. Tiêu thụ ô tô thế giới đang giảm mạnh. Nhu cầu từ các nhà sản xuất ô tô tại các thị trường quan trọng như Mỹ, Nhật và Trung Quốc đều đang và khả năng sẽ còn tiếp tục giảm. Nissan Motor Co. và Hyundai Motor Co cùng nhiều hãng sản xuất ô tô khác đang tiếp tục giảm hoạt động lắp ráp xe ô tô do khủng hoảng tài chính thế giới làm giảm nhu cầu. Hãng sản xuất lốp xe của Pháp, Michelin, đã giảm mục tiêu lợi nhuận của hãng trong năm 2008 do nhu cầu ô tô giảm mạnh ở châu Âu và Bắc Mỹ.
Sản lượng cao su thế giới ước tính đạt khoảng 10 triệu tấn trong năm 2008, tăng 3,8% so với năm 2007, trong khi nhu cầu sẽ đạt xấp xỉ 9,8 triệu tấn, tăng 2%. Thái Lan sẽ sản xuất khoảng 3,1 triệu tấn cao su trong năm 2008, tăng 2% so với năm 2007.
Tiền tệ:
Đồng bạc xanh bắt đầu năm 2008 với hàng loạt phiên giao dịch rớt giá thảm hại so với giỏ các đồng tiền khác do tâm lí lo ngại về khả năng suy thoái của nền kinh tế lớn nhất thế giới bao trùm khắp thị trường song đã hồi phục mạnh trong 4 tháng cuối năm do các nhà đầu tư hạn chế mua Euro và các đồng tiền có sản lượng cao hơn trong bối cảnh triển vọng kinh tế thế giới mờ nhạt và các ngân hàng trung ương lớn cắt giảm tỷ lệ lãi suất để hạn chế thiệt hại do kinh tế thế giới suy yếu gây ra.
Trong 8 tháng đầu năm nay, USD liên tiếp sụt giảm mạnh so với Euro khiến đồng tiền này tăng mạnh giá, hai lần tiến sát ngưỡng 1,600 USD/ Euro- mức cao nhất kể từ khi đồng tiền chung châu Âu ra đời.
USD cũng rớt giá thê thảm so với đồng Yên Nhật vào 3 tháng cuối năm, khiến đồng Yên tăng lên mức cao nhất 13 năm qua so với USD. Ngưỡng 1 USD đổi được 88,22 Yên đã đạt được vào cuối tháng 12 như vậy là USD đã giảm 17% giá trị so với Yên trong năm nay.
Nguyên nhân chính của sụt giảm mạnh là do kinh tế Mỹ suy yếu trầm trọng. Bộ thương mại Mỹ liên tiếp công bố những số liệu yếu kém của nền kinh tế.
Năm nay, gần 2 triệu người Mỹ đã bị mất việc làm, đẩy tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lên 6,7%, một tỷ lệ lớn nhất trong 15 năm qua.
Năm nay, năm thê thảm của ngành ngân hàng Mỹ với số lượng ngân hàng thương mại phá sản lên tới con số 13. Nhiều ngân hàng khác cũng đang ngấp nghé bên bờ vực phá sản. FED đã liên tục cắt giảm lãi suất đồng bạc xanh 8 lần, đưa lãi suất của đồng tiền này từ mức 5,25% xuống biên độ từ 0% đến 0,25% hiện nay.Ngay sau khi FED cắt lãi suất cơ bản xuống 0%, tỷ giá USD/Euro giảm 3% xuống còn 1,4437 USD/Euro, và dừng ở mức 1,4924 USD/Euro khi kết thúc phiên giao dịch. Đây là mức sụt giá lớn nhất của USD kể từ khi đồng euro được đưa vào lưu hành năm 1999. Các nhà kinh tế nhận định xu hướng giảm giá của USD sẽ kéo dài đến cuối năm nay, và rất có thể sẽ xuống mức 1,50 USD/euro.
Thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm mạnh cũng không hỗ trợ đồng USD. Chỉ số S&P 500 đã mất gần 41%, chỉ số Dow Jones mất 36% (tính đến 15/12) kéo theo giá nhiều cổ phiếu sụt giảm và hàng nghìn tỷ USD “bốc hơi”. Cuộc khủng hoảng tài chính đã gây nên những tác động khôn lường đối với nền kinh tế Mỹ, với sụp đổ của nhiều định chế tài chính vốn tưởng như không thể sụp đổ. GDP của Mỹ đã tăng trưởng âm trong những tháng cuối năm 2008 và sẽ tiếp tục xu hướng suy giảm trong năm 2009.
Chuỗi ngày sụt giảm của USD đã chấm dứt trong 4 tháng cuối năm do nhiều yếu tố chính trị và kinh tế. Kinh tế suy yếu trên phạm vi toàn cầu khiến các đồng tiền của các nước khác cũng giảm mạnh giá và việc Tổng thống mới đắc cử của nước Mỹ- ông Obama đã làm cho người ta kỳ vọng nhiều vào những chính sách mới của ông, đưa nước Mỹ thoái khỏi cơn suy thoái hiện nay.
Năm 2009, kinh tế thế giới dự kiến sẽ hồi phục bắt đầu từ mùa hè và USD dự kiến sẽ tăng hơn nữa song không mạnh bằng các đồng tiền khác. Có hai yếu tố lớn chi phối đồng USD: thứ nhất là những biến động thương mại toàn cầu và thứ hai là nợ chính phủ Mỹ, triển vọng lạm phát Mỹ cộng với những hành động của FED. Giới phân tích hy vọng rằng kho bạc Mỹ sẽ vẫn nỗ lực hỗ trợ nền kinh tế và chế ngự được lạm phát. Dự kiến tỷ giá đồng Euro/ USD sẽ giảm còn 1,10 trong quý 2 năm nay sau đó sẽ hồi phục lên mức 1,20 vào cuối năm 2009. Tỷ giá USD/ Yên sẽ giảm còn 85 vào quý 2 trước khi tăng lên 100 vào cuối năm 2009. Euro dự kiến sẽ tiếp tục duy trì mức tăng mạnh trong năm tới.