Sau 10 năm tăng trưởng liên tục (trung bình 15%/năm), kim ngạch xuất khẩu thủy sản của nước ta đã tăng gấp 3 lần, từ 2 tỷ USD trong năm 2002 lên 6,1 tỷ USD năm 2011. Với thành tích này, ngành thủy sản Việt Nam chiếm tỷ trọng 5% trên bản đồ thủy sản thế giới và lọt vào top 5 nhóm ngành xuất khẩu lớn nhất Việt Nam.
Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản của cả nước năm 2011 đạt 25 tỷ USD, trong đó thủy sản là lĩnh vực đạt kim ngạch xuất khẩu cao nhất của ngành nông nghiệp. Giá trị sản xuất nông lâm thủy sản tăng 5,2% so với cùng kỳ năm 2010, riêng sản xuất thủy sản đứng đầu với giá trị tăng 6,39%.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thủy sản, tổng sản lượng thủy sản cả năm 2011 ước đạt 5,2 triệu tấn (tăng 4,4% so với kế hoạch năm và tăng 1,4% so cùng kỳ), trong đó sản lượng khai thác đạt 2,2 triệu tấn (bằng 90,9% so cùng kỳ), sản lượng nuôi trồng đạt 3 triệu tấn (tăng 7,8% so kế hoạch và tăng 10,8% so cùng kỳ), diện tích nuôi trồng đạt 1,093 triệu ha (bằng 97,3% kế hoạch, tăng 2,5% so cùng kỳ).
Như vậy, trong năm 2011, tuy diện tích nuôi trồng không đạt kế hoạch và sản lượng khai thác giảm so với cùng kỳ nhưng giá trị xuất khẩu lại tăng, điều đó cho thấy ngành thủy sản nước ta đã vượt qua khó khăn, nâng cao giá trị sản phẩm xuất khẩu.

Thiếu quy hoạch, thiếu liên kết là điểm yếu trầm kha của ngành thủy sản Việt Nam
Đối với mặt hàng tôm, năm 2010, lần đầu tiên chúng ta xuất khẩu vượt mốc 2 tỷ USD, năm 2011 tăng lên 2,4 tỷ USD; trong đó, tôm sú chiếm 59,7%, tôm chân trắng chiếm 29,3% tổng giá trị, giá xuất khẩu tăng từ 12 – 18% so với năm trước. Cơ cấu cho thấy, tôm sú vẫn chiếm vị trí chủ đạo trong chủng loại tôm xuất khẩu. Tuy nhiên, tỷ trọng khối lượng và giá trị mặt hàng này đang giảm dần.
Trong khi đó, trong năm 2011, nguồn nguyên liệu tôm chân trắng vẫn phát huy được lợi thế trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu tôm của nước ta. Điều đáng nói là trong năm vừa qua, diện tích nuôi tôm sú bị thiệt hại nghiêm trọng do dịch bệnh (ước thiệt hại 81.000 ha), trong khi sản lượng thu hoạch tôm chân trắng đạt gần 200.000 tấn. Đây chính là nguồn nguyên liệu bù đắp cực kỳ quan trọng cho ngành tôm Việt Nam.
Chính vì vậy, theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (Vasep), khâu quy hoạch diện tích nuôi tôm sú và tôm chân trắng trong năm 2012 là một trong những yếu tố góp phần thắng hay bại đối với sản lượng xuất khẩu tôm trong năm tới. Việc cân đối làm sao cho tránh những rủi ro về dịch bệnh có thể xảy ra từ việc rút bài học trong năm 2011.
Về mặt hàng cá tra, giá trị xuất khẩu trong năm 2011 đạt hơn 1,8 tỷ USD, tăng gần 26,5% (so 2010), với khối lượng xuất khẩu trên 600.000 tấn, tăng 3% so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu mặt hàng này tháng sau luôn cao hơn tháng trước và tăng từ 15 – 25% so với cùng kỳ. Cho đến nay, cơ cấu thị trường xuất khẩu chính của cá tra vẫn không thay đổi, trong đó Mỹ và EU là hai thị trường lớn nhất.
Tuy tăng trưởng, nhưng trong năm vừa qua, xuất khẩu cá tra của Việt Nam đã phải đối mặt từ trở ngại này đến trở ngại khác. Đơn cử như việc áp thuế chống phá giá từ thị trường Hoa Kỳ vẫn chưa ngã ngũ, yêu cầu chất lượng an toàn thực phẩm từ thị trường EU ngày càng khắt khe.
Ở trong nước, nguồn nguyên liệu cho chế biến cá tra xuất khẩu bị thiếu hụt nghiêm trọng, đặc biệt vào những tháng trái vụ do rất nhiều nguyên nhân như dịch bệnh tại các vùng nuôi trọng điểm, người nuôi “treo” ao do chi phí đầu vào tăng cao, lãi suất ngân hàng không giảm, giá lại bấp bênh, ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân và cả doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
Tại Hội nghị tổng kết ngành diễn ra cuối tuần qua, có ý kiến cho rằng, mặc dù tăng trưởng rất khả quan và đáng tự hào nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn lỗ nặng, không loại trừ một số doanh nghiệp không thể cầm cự và phá sản trong năm vừa qua. Việc bỏ ngỏ khâu quy hoạch là một trong những trở ngại đáng kể nhất đối với ngành thủy sản Việt Nam. Không có quy hoạch, khi có giá, mạnh ai nấy nuôi, khi dịch bệnh, người nuôi đua nhau bỏ ao. Đây được xem là một mắt xích “đen” đem lại rủi ro rất lớn đối với toàn ngành và cũng là nỗi bức xúc của hàng trăm doanh nghiệp mà cho đến nay vẫn chưa có giải pháp.
Ngoài ra, cơ chế cũng là một mắt xích khiến nhiều doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản lao đao. Ông Dương Ngọc Minh, Tổng giám đốc Công ty CP Thủy sản Hùng Vương cho rằng, riêng về các mức phí mà doanh nghiệp chế biến xuất khẩu phải trả cho các khâu kiểm định ước tính trung bình một tháng lên đến 1.000 tỷ đồng. Theo ông Minh, nếu Bộ NN&PTNT quy các khâu kiểm định về một đầu mối và giao cho Sở NN&PTNT các tỉnh đảm trách, lúc đó số tiền này sẽ bù đắp vào các chi phí nuôi trồng cho người nông dân, ngành thủy sản sẽ được lợi rất nhiều.
Nhiều ý kiến cho rằng, năm tới, ngành thủy sản Việt Nam thắng hay bại đều nằm ở quý I/2012. “Chúng ta đừng tự đắc trước những thành công thực tại, tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững là một cái bẫy. Ngay trong quý I năm 2012, ngành thủy sản sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro thách thức, nếu không tỉnh táo, sẽ có nhiều doanh nghiệp phá sản ngay trong quý I này”, giám đốc một doanh nghiệp thủy sản ở miền Trung nhận định.
Có thể nói, ngành thủy sản Việt Nam luôn gặp rủi ro từ nhiều phía, cả trong nước và thị trường xuất khẩu. Các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu vẫn còn thói quen làm ăn manh mún, chỉ muốn đầu tư cho riêng mình mà quên đi lợi ích chung, riêng việc xả thải, quản lý môi trường cũng đã chứng minh điều đó. Hoạch định từ khâu quy hoạch là điều đương nhiên, nhưng chính doanh nghiệp cũng cần hoạch định tư duy, chiến lược kinh doanh cho riêng mình.
Lê Nguyễn