Thanh Hóa: Thực hiện hiệu quả chính sách dân tộc của Đảng trong tình hình mới

ĐCSVN - 

Thanh Hoa: Thuc hien hieu qua chinh sach dan toc cua Dang trong tinh hinh moi

Chính sách dân tộc luôn là chiến lược trong mọi thời kỳ cách mạng của Đảng và Nhà nước ta. Từ ngày có Đảng, chính sách dân tộc được xác định và xuyên suốt đến nay đó là “Bình đẳng - Đoàn kết – Tương trợ giúp đỡ nhau giữa các dân tộc cùng phát triển, cùng tiến bộ”. Nhờ có chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, vùng dân tộc miền núi Thanh Hóa đã từng ngày, từng bước phát triển đi lên.

Được sự hỗ trợ của Nhà nước theo Quyết định 167, gia đình anh Hà Văn Bảng ở xã Lũng Niêm, huyện Bá Thước, đang khẩn trương xây dựng nhà ở. Ảnh: Trần Thủy

Vùng dân tộc miền núi Thanh Hóa có số dân gần 1,1 triệu người, với diện tích 80.000 km2. Đây luôn là địa bàn chiến lược cả về kinh tế - xã hội và an ninh - quốc phòng của cách mạng Việt Nam. Điều này đã được khẳng định trong tầm mắt chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh: ngày 22-2-1947, Người đã có bức thư gửi đồng bào Thượng du Thanh Hóa. Hai tháng sau, ngày 4-4-1947, nhân danh Chủ tịch nước, Người ký Sắc lệnh số 41/SL về thành lập Ủy ban Hành chính Đặc biệt miền thượng du tỉnh Thanh (đây là tiền thân của cơ quan làm công tác dân tộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay).

Thấm nhuần quan điểm của Đảng và chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp ủy Đảng, chính quyền Thanh Hóa luôn xác định rõ công tác dân tộc và chính sách dân tộc là nhiệm vụ chiến lược quan trọng, có ý nghĩa động lực cơ bản đối với phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi của tỉnh trong mọi thời kỳ, mọi giai đoạn cách mạng. Chặng đường 62 năm qua, miền núi Thanh Hóa, với khẩu hiệu hành động “Thượng du thắng – Thanh Hóa thắng” đã đạt nhiều kết quả và thành tựu to lớn trên mặt trận chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động sản xuất phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng làng bản, quê hương, đất nước trong suốt hai cuộc kháng chiến lớn của dân tộc và trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay.

Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới được bắt đầu từ Nghị quyết 22/NQ – T.Ư, ngày 27-11-1989 của Bộ Chính trị; Nghị quyết 21/T.U của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa khóa 7; Quyết định 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi. Từ những quan điểm đúng đắn trên, đã có nhiều chương trình, dự án, chính sách dân tộc trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội và đời sống vùng đồng bào các dân tộc miền núi Thanh Hóa nói riêng: Các chương trình định canh định cư; Chương trình 327, PAM, Chương trình 661; Chương trình xóa đói, giảm nghèo theo Quyết định 133/CP; các chính sách về miễn giảm thuế nông nghiệp; về ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng; Chương trình 135, 134, Trung tâm cụm xã, 174; các chương trình về hỗ trợ y tế, giáo dục, phủ sóng phát thanh, truyền hình vùng lõm, vv... Dưới tác động trực tiếp của các chương trình, dự án này, kinh tế – xã hội vùng dân tộc miền núi tỉnh Thanh Hóa đã thực sự có cơ hội phát triển và đi lên với những biến đổi tích cực, toàn diện và sâu sắc.

Chương trình Định canh định cư từ những thập niên trước đây đã từng bước ổn cư ổn canh cho 68 xã, với gần 50.000 hộ dân và 251.134 nhân khẩu. Chương trình 06 về chuyển đổi cây trồng thay thế cây thuốc phiện tại các huyện vùng cao biên giới: Mường Lát, Quan Hóa, Quan Sơn không những đã chấm dứt việc tái trồng cây thuốc phiện mà vùng đồng bào Mông đã ổn định sản xuất với cây mới, con mới trong cơ cấu phát triển kinh tế - xã hội vùng miền; Chương trình hàng trợ giá trợ cước theo Quyết định 1960; Quyết định 7464 (1994 – 1995) của Hội đồng Bộ trưởng nay là Nghị định 20/CP của Chính phủ đã luôn giữ cho mặt bằng giá cả khu vực miền núi nói chung được bình ổn, tác động không nhỏ đến đời sống sinh hoạt và sản xuất vùng đồng bào các dân tộc. Chương trình 135 là chính sách đặc thù về phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, miền núi vùng sâu, vùng xa được bắt đầu thực hiện từ năm 1999 đến nay, trên địa bàn 102 xã khu vực III (giai đoạn I); 93 xã khu vực III và 178 thôn, bản đặc biệt khó khăn của xã khu vực II với mức đầu tư bình quân mỗi xã vùng đặc biệt khó khăn trên 1 tỷ đồng hàng năm. Nhờ đó đến nay, 95% số xã có trường tiểu học, THCS và trạm y tế kiên cố; 70% số xã có điểm bưu điện - văn hóa xã; 88% xã có đường ô tô đến trung tâm xã. Dự án Trung tâm cụm xã tập trung đầu tư các hạng mục hạ tầng thiết yếu tại các cụm xã biên giới vùng cao như: phòng khám khu vực, trường bán trú, chợ trung tâm cụm, giao thông nội khu, nước sinh hoạt... Với 22 trung tâm cụm xã được đầu tư, bước đầu đã tạo ra hình ảnh những thị tứ, thị trấn miền núi tương lai; Chương trình 134 đã thể hiện rõ tính nhân văn và ý nghĩa xã hội sâu sắc của chính sách: gần 80.000 hộ dân tộc thiểu số nghèo khó khăn về nhà, đất sản xuất, đất ở và nước sinh hoạt được hưởng lợi. Với nguyên tắc hỗ trợ trực tiếp đến từng hộ gia đình và được cộng đồng giúp đỡ, các hộ nghèo dân tộc thiểu số đã nỗ lực bứt phá vươn lên.

Cùng với các chương trình, dự án cụ thể nói trên, còn nhiều chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước được đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi Thanh Hóa. Thông qua các chính sách dân tộc và dưới sự tác động nhiều mặt của chính sách đã làm khu vực miền núi tỉnh Thanh có bước phát triển cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và an ninh - quốc phòng: GDP tăng trưởng hàng năm từ 5 – 6% ở những năm thập kỷ 90; giai đoạn 2001 – 2005 bình quân đạt từ 7,5 – 8,5% (cả tỉnh 9,6%). Trong cơ cấu: nông - lâm - thủy sản tăng 4,9% (cả tỉnh là 5,2%); công nghiệp – xây dựng tăng 12% (cả tỉnh là 15,8%) và dịch vụ tăng 6,8% (cả tỉnh là 8,2). Năm 2005 và 2006 năng suất lúa bình quân toàn vùng miền núi đạt gần 40 tạ/ha/vụ. Sản lượng lương thực năm 2008 vừa qua đạt trên 30 vạn tấn/năm. Lương thực bình quân đầu người đạt từ 320 đến 345 kg/người/năm. Độ che phủ của rừng từ dưới 30% (năm 1989) tăng lên 60% (năm 2007). Những con số này đều có chỉ số gấp 1,5 – 2,5 lần so với những năm trước thập niên 90. Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội cũng có nhiều chuyển biến tích cực đáng mừng. Đến nay, 100% số xã đạt phổ cập giáo dục tiểu học; 100% các xã và hơn 90% thôn, bản đều có cán bộ y tế hoạt động chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho đồng bào; 90% dân số được hưởng thụ phát thanh và 70% - 80% được xem truyền hình; đặc biệt, về kết cấu hạ tầng kinh tế được quan tâm đầu tư nên có nhiều thay đổi cơ bản và tương đối toàn diện. Mạng lưới giao thông từ thôn bản đến liên xã, liên huyện và các tuyến đường huyết mạch – Quốc lộ 15A, 45, 47, 217 đã và đang được nâng cấp đầu tư. 11/11 huyện miền núi cơ bản đã có hệ thống trường THPT, trường THCS dân tộc nội trú, bệnh viện trung tâm kiên cố; 100% các huyện và 90% số xã với 70% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia... Sản xuất công nghiệp, tiểu - thủ công nghiệp và dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá, góp phần thúc đẩy và tăng trưởng cơ cấu kinh tế của vùng. Công tác quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi nói chung.

Với ý nghĩa sâu sắc và toàn diện của chính sách dân tộc là: Bình đẳng - Đoàn kết – Tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc cùng phát triển, cùng tiến bộ, hy vọng rằng kinh tế - xã hội vùng dân tộc miền núi Thanh Hóa sẽ cùng với kinh tế - xã hội cả tỉnh, cả nước tiếp tục đạt nhiều thành tựu to lớn hơn trong giai đoạn cách mạng mới.

Tin mới