Thắng lợi của đấu tranh quân sự-ngoại giao

QĐND - 20/07/2009 23:02

Thang loi cua dau tranh quan su-ngoai giao

QĐND Online - Vào đúng ngày này cách đây 55 năm, Hiệp định về đình chỉ chiến sự lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương đã được ký kết tại Giơ-ne-vơ (Thụy Sĩ). Hội nghị đã thông qua Tuyên bố cuối cùng gồm 13 điều, trong đó quan trọng nhất là các điều 7, điều 11 khẳng định các bên tham gia hội nghị, đặc biệt là Pháp, thừa nhận về nguyên tắc và cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia; điều 10 quy định việc quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương…

Như vậy, sau 75 ngày đàm phán gay go, khẩn trương (từ 8-5 đến 20-7-1954), trải qua 8 phiên họp toàn thể và 23 phiên họp hẹp, quân và dân ta đã giành được thắng lợi to lớn trên mặt trận ngoại giao, góp phần cùng với thắng lợi trên chiến trường, đưa đến việc kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã trực tiếp hỗ trợ cho cuộc đàm phán ở Giơ-ne-vơ

Một điều mà hầu hết mọi người đều thừa nhận là: Thắng lợi trên chiến trường quyết định sự tiến triển trên bàn đàm phán. Tuy nhiên, cũng cần nói rõ một điểm là từ trước đến nay, một số người cho rằng, do quân ta giành thắng lợi ở Điện Biên Phủ ngày 7-5 nên ngay hôm sau 8-5, Pháp phải đàm phán với ta ở Giơ-ne-vơ. Thực tế là tại Hội nghị Giơ-ne-vơ, các bên tham gia bàn về vấn đề chiến tranh Triều Tiên trước, bắt đầu từ khi khai mạc ngày 26-4, sau đó mới chuyển sang vấn đề chiến tranh Đông Dương. Đó là lịch trình mà Hội nghị 4 nước lớn (còn gọi là Hội nghị Tứ cường) gồm Liên Xô, Mỹ, Anh, Pháp họp tại Béc-lin ngày 25-1-1954 đã quyết nghị. Tuy vậy tác động của trận Điện Biên Phủ, với thắng lợi không thể đảo ngược của quân và dân ta đã góp phần đẩy nhanh chương trình nghị sự bàn về chiến tranh Đông Dương. Ngày 8-5 đã được ấn định bàn về vấn đề Đông Dương và một sự trùng hợp thú vị mang đến lợi thế to lớn cho Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ cộng hòa khi bước vào đàm phán là chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc một ngày trước đó.

Cuộc đàm phán diễn ra rất gay go bởi tuy ta giành được thắng lợi tại Điện Biên Phủ, đã giáng một đòn quyết định vào ý chí tiếp tục chiến tranh của thực dân Pháp nhưng xét về so sánh tương quan lực lượng giữa quân ta và quân Pháp ở Đông Dương thì vẫn chưa có sự thay đổi lớn. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng mở rộng lần thứ 6 (khóa II), họp từ ngày 15 đến 17-7-1954, dưới sự chủ tọa của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã nhận định: “Tình thế trong nước phát triển ngày càng có lợi cho ta… lực lượng so sánh giữa ta và địch biến chuyển có lợi cho ta nhưng chưa phải biến chuyển căn bản có tính chất chiến lược” (Văn kiện Đảng toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.223).

Trên thực tế, trước khi bước vào trận đánh ở Điện Biên Phủ, quân chính quy của đội quân viễn chinh Pháp và “quân đội quốc gia” của Chính phủ Bảo Đại khoảng 450.000, không tính vũ khí, phương tiện chiến tranh cũng như ưu thế tuyệt đối về máy bay, xe tăng, tàu chiến. Trong khi đó, bộ đội chủ lực của ta là 290.000, tỷ lệ 1,5/1.

Sau khi kết thúc trận Điện Biên Phủ, số quân Pháp, quân của Chính phủ Bảo Đại bị tiêu diệt, bị thương, bị bắt sống ở tập đoàn cứ điểm này chỉ chiếm khoảng 4% tổng binh lực của Pháp trên toàn Đông Dương. Vì thế, chưa có sự thay đổi lớn về so sánh lực lượng nếu chỉ nhìn vào những con số. Tuy nhiên, thắng lợi của quân và dân ta ở Điện Biên Phủ lại có ý nghĩa quyết định đến kết quả cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ bởi vì Chính phủ Pháp ở Pa-ri và đội quân viễn chinh ở Đông Dương đã hoàn toàn suy sụp về tinh thần và mất sức chiến đấu. Cố gắng chiến tranh cao nhất, hình thức phòng ngự cao nhất, với sự hỗ trợ trực tiếp và mạnh mẽ nhất của Mỹ đã không giúp Pháp giành được thắng lợi quân sự quyết định. Chính vì thế, nỗi ám ảnh về sự thua nhục nhã ở Điện Biên Phủ luôn hiện hữu trong tâm trí các thành viên Đoàn đàm phán Pháp ở Giơ-ne-vơ, khiến họ tuy đưa ra những đòi hỏi cao, thậm chí vô lý, để giữ thể diện nước lớn, song lại muốn giải quyết cuộc chiến hao người, tốn của, gây chia rẽ nội tình nước Pháp càng sớm càng tốt.

Vị trí Hội nghị Giơ-ne-vơ trong tiến trình phát triển cuộc chiến tranh cách mạng từ 1945 đến 1975

Có thể nói, trong 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, quân và dân ta đã thực hiện xuất sắc cuộc đấu tranh ngoại giao, kết hợp với đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị… theo đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng một cách đúng đắn, sáng tạo. Từ Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946) đến Hiệp định Giơ-ne-vơ, đến Hiệp định Pa-ri (27-1-1973) đã đánh dấu một cách rõ nét từng bước đi lên của đấu tranh ngoại giao nói riêng, của cuộc kháng chiến nói chung. Có thể đưa ra một vài đánh giá, so sánh sau đây:

Hiệp định Sơ bộ là hiệp định quốc tế đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa ký với đại diện của Pháp tại miền Bắc Đông Dương là Giăng Xanh-tơ-nuy. Thời gian từ khi bắt đầu đàm phán cho đến khi ký Hiệp định chỉ kéo dài chưa đầy một tháng. Kết quả của Hiệp định cũng mới chỉ dừng ở mức ta đồng ý để 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc của Tưởng Giới Thạch làm nhiệm vụ giải giáp vũ khí của phát-xít Nhật và sẽ rút lui đi sau thời gian 5 năm. Đổi lại, Pháp chỉ công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do nhưng nằm trong Liên hiệp Pháp; ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng mọi mặt để bước vào cuộc kháng chiến lâu dài không thể tránh khỏi.

Hiệp định Giơ-ne-vơ là Hiệp định có nhiều nước lớn tham dự, với thành phần đông đảo mà trưởng đoàn là cấp Bộ trưởng Ngoại giao trở lên (phía Pháp là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao) đã phải thừa nhận và cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia. Đây là kết quả lớn nhất. Không những thế, Pháp còn phải chấm dứt chiến tranh, rút quân khỏi Việt Nam và Đông Dương. Hiệp định còn quy định cán bộ, chiến sĩ của ta phải tập kết ra miền Bắc trong thời hạn hai năm cho đến khi có tổng tuyển cử.

Đến Hiệp định Pa-ri, các nước tham dự, đặc biệt là Mỹ, cũng phải cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam sau hơn 20 năm tiến hành can thiệp và xâm lược. Điều đáng nói ở đây là Hiệp định Pa-ri quy định Mỹ phải rút hết nhân viên quân sự và dân sự khỏi Việt Nam trong thời hạn 60 ngày, trong khi đó, bộ đội miền Bắc được ở lại. Và, đó là cơ hội tốt để quân và dân ta “đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Bài học kinh nghiệm lớn nhất của Hiệp định Giơ-ne-vơ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và cuộc đàm phán ở Pa-ri chính là luôn kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự với ngoại giao, lấy kết quả tác chiến trên chiến trường làm cơ sở, làm chỗ dựa để tiến công đối phương trên bàn đàm phán; phải luôn hiểu và nắm rõ âm mưu và hành động của kẻ thù, không được ảo tưởng vào “thiện chí” của kẻ thù; luôn kiên định mục tiêu, nguyên tắc cao nhất trong đàm phán nhưng mềm dẻo về sách lược trong những tình huống cụ thể để đạt kết quả cuối cùng./.

Đại tá PGS. TS Nguyễn Mạnh Hà