Tham gia ý kiến vào Dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992 Hiến định sự lãnh đạo của đảng Cộng sản đối với Nhà nước

Báo Người cao tuổi - 24/01/2013 09:29

1. Tính tất yếu của sự lãnh đạo của Đảng chính trị đối với Nhà nước

Sự lãnh đạo của Đảng chính trị đối với Nhà nước là quy luật chung trong lịch sử phát triển của xã hội hiện đại, trong tất cả các Nhà nước, kể từ khi Nhà nước tư sản ra đời tới nay. Nhưng quy luật ấy thể hiện trong không gian và thời gian khác nhau lại phụ thuộc vào trí tuệ, ý chí của con người trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Mỗi quốc gia thể hiện khác nhau, pháp luật quy định cũng khác nhau, không nước nào giống nước nào. Đó là lẽ bình thường.

2. Quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách vận dụng của Người đối với vấn đề Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước

Chúng ta đang thảo luận, góp ý kiến vào Dự thảo Hiến pháp 1992, một lần nữa vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước lại được bàn thảo sôi nổi ở cả hai chiều trái ngược nhau. Một chiều khẳng định sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là cần thiết và phải được tái hiến định trong bản Hiến pháp mới; một chiều phủ định, thậm chí phản bác, đòi bỏ điều 4 đã ghi trong Hiến pháp năm 1992. Nhưng, đa số người dân Việt Nam nhận thức rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước dân chủ mới do Đảng Cộng sản lãnh đạo là hoàn toàn đúng. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tiền thân của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo đồng thời là người sáng lập và trực tiếp đứng đầu Nhà nước ấy với tư cách là nguyên thủ quốc gia trong 24 năm (1945 - 1969), trực tiếp đứng đầu ngành hành pháp 14 năm (1945 - 1959). Hồ Chủ tịch đã giải quyết mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước một cách kì tài, và, tư tưởng của Người về Đảng Cộng sản lãnh đạo Nhà nước trở thành chuẩn mực, thành nguyên tắc mà tất cả các thế hệ lãnh đạo kế tiếp Người, cho tới nay, vẫn cần phải học tập, noi theo.

Ở Việt Nam ta, Nhà nước dân chủ nhân dân hay Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa về bản chất vẫn là Nhà nước của dân, do dân và vì dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước đã là quy luật chung, thành nguyên tắc nhưng việc có ghi trong Hiến pháp hay không, thậm chí có tuyên bố hay không là tùy tình hình cụ thể. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyên tắc bất biến là vừa phải giữ vững quyền lãnh đạo chính trị của Đảng với Nhà nước, nhưng lại vừa phải bảo đảm tôn vinh vai trò của Nhà nước, làm cho Nhà nước của ta trở thành nhà nước dân chủ mới, mới có nghĩa là Nhà nước phải trở thành ngọn cờ tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc; Nhà nước ấy phải trở thành ngôi nhà chung, đáng tin cậy của tất cả mọi người dân Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngoài nước.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước Việt Nam là tất yếu lịch sử, nhưng muốn giữ vững được vai trò của Đảng cầm quyền, Đảng ấy trước hết phải là một tổ chức "có tính quần chúng", bao gồm những người ưu tú của dân tộc, Đảng ấy phải là "hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động" và quan trọng hơn cả, Đảng ấy phải là "hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc", phải "là đạo đức, là văn minh", phải quyết tâm giữ gìn độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mang lại hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc. Đảng như vậy sẽ thực sự là một đảng lãnh đạo tư tưởng, chính trị, đường lối cho một Nhà nước dân chủ mới: Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đảng lãnh đạo nhưng Đảng không làm thay Nhà nước, Đảng không cai trị mà tôn vinh Nhà nước, Đảng lãnh đạo bảo đảm để Nhà nước có thực quyền làm chức năng quản lí mọi mặt của đời sống xã hội.

3. Về vấn đề hiến định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với Nhà nước

Hồ Chủ tịch đã giải quyết rất uyển chuyển, vẫn trung thành với phép biện chứng "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Nếu như Hiến pháp năm 1946 (Hiến pháp đầu tiên của nước ta do Hồ Chủ tịch chủ trì soạn thảo) không ghi một dòng, một chữ nào về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thì Hiến pháp năm 1959 (cũng do Người làm Trưởng ban Soạn thảo) trong Lời nói đầu đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) trong công cuộc đấu tranh giành lại độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đồng thời xác định bản chất của Nhà nước là Nhà nước dân chủ nhân dân dựa trên nền tảng liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo.

Hồ Chủ tịch qua đời trước khi nước nhà thống nhất nhưng đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân ta bản Di chúc lịch sử, trong đó Người nói rõ: "Đảng ta là đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

Sau khi nước nhà hoàn toàn độc lập thống nhất, năm 1976 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân cả nước quyết định đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 18/12/1980, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua bản Hiến pháp 1980. Tại Điều 4 bản Hiến pháp ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam "là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội… Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp". Năm 1992 và lần sửa chữa bổ sung Hiến pháp 1992 (theo Nghị quyết Quốc hội ngày 25/12/2001) trong Điều 4 có sửa chữa đôi chút và ghi: Đảng Cộng sản Việt Nam "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".

Dự thảo lần này vẫn xác định quyền lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội nhưng xác định rõ Đảng phải chịu trách nhiệm phục vụ nhân dân, gắn bó với nhân dân, đặc biệt là phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những quyết định của mình. Dự thảo là chặt chẽ, dân chủ và rõ ràng trách nhiệm, thể hiện được vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật, coi Hiến pháp là tối thượng, bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào, kể cả Đảng lãnh đạo, cầm quyền cũng không được ra các quyết định trái với Hiến pháp và pháp luật. Đó là một bước tiến đáng kể trong lịch sử lập hiến của nước ta.

PGS. Trần Đình Huỳnh
Cựu Viện trưởng Viện Xây dựng Đảng.


Tin mới