Thai nhi bị dị tật: Bỏ hay giữ?

Báo Phụ Nữ Online - 

Thai nhi bi di tat: Bo hay giu?

PN - Năm 2009, BV Từ Dũ đã khám tiền sản cho 5.314 thai phụ, trong đó 1.301 trường hợp đã phải chấm dứt thai kỳ vì dị tật bẩm sinh nặng. Vấn đề đặt ra ở đây là “quyền” được tự ý bỏ thai nhi của cha mẹ đến đâu, vì trên thực tế, có những thai nhi chỉ bị dị tật nhẹ và hoàn toàn có thể điều trị hết sau khi sinh, nhưng thai phụ vẫn quyết định chấm dứt thai kỳ.

Trước kia, do không phát hiện được những dị tật thai bẩm sinh, nên tỷ lệ trẻ sinh ra bị các bất thường khá cao, từ 3% – 5%. Hiện nay, nhờ những kỹ thuật chẩn đoán tiền sản từ siêu âm đến xét nghiệm di truyền, các bác sĩ (BS) đã phát hiện sớm dị tật bẩm sinh nặng, những trẻ mang bệnh lý gen hoặc giảm thiểu trí tuệ… từ đó tư vấn cho thai phụ và gia đình hướng kết thúc thai kỳ nhằm giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Ít con nên phải lành lặn

Chẩn đoán sớm những khuyết tật có thể điều trị được sau sinh giúp cha mẹ chuẩn bị tâm lý tốt hơn để đón bé, nhưng đây cũng là lý do khiến không ít sản phụ yêu cầu chấm dứt thai kỳ. Với gia đình anh Trần Văn H. (40 tuổi, Q.5, TP.HCM), một đứa trẻ sinh ra bị sứt môi khó có thể chấp nhận khi anh là một doanh nhân, có nhiều mối quan hệ lớn, nên chắc chắn sẽ bị điều ra tiếng vào. Mặc dù trước đó, sau khi có kết quả siêu âm hình thái học, các BS đã khẳng định đây không phải là một khuyết tật nghiêm trọng, và hoàn toàn có thể phẫu thuật được sau sinh. Trong khi đó, chị Nguyễn Thị T. (35 tuổi, Q. 1) nghẹn ngào: “Mang thai bé thứ nhất, mọi thứ đều bình thường. Mang thai lần này đã được 22 tuần, BS thông báo bé bị sứt môi hở hàm ếch. Tôi đang rối quá, không biết nên bỏ bé hay không”.

“Quyết định bỏ thai đối với các thai phụ lẫn thầy thuốc không bao giờ là vấn đề dễ dàng, nhất là đối với những trường hợp thai to. Bỏ thai có thể gây ra những rủi ro cho bản thân thai phụ và tương lai sản khoa sau này như: băng huyết, nhiễm trùng, tổn thương cơ tử cung và những tạng vùng bụng, dính buồng tử cung, vô kinh thứ phát, vô sinh... Với những trường hợp khuyết tật có thể điều trị được sau sinh như: sứt môi, chẻ vòm, tay chân khoèo, … chúng tôi đều tư vấn cho thai phụ và gia đình tiếp tục thai kỳ và điều trị cho bé sau sinh” - TS-BS Lê Thị Thu Hà – BV Từ Dũ cho biết.

Tuy nhiên, theo ThS-BS Vương Thị Ngọc Lan – Bộ môn Phụ sản, ĐH Y Dược TP.HCM, do sinh ít con, nên nhu cầu sinh con lành lặn, thông minh là hoàn toàn dễ hiểu: “Vì thế, một số bà mẹ đã lập tức quyết định bỏ thai dù chỉ phát hiện bất thường rất nhỏ. Họ hy vọng lần sau có thể sinh ra đứa con bình thường, khỏe mạnh, lành lặn…”.

“Quyền” của cha mẹ đến đâu?

Mới đây, trong hội thảo “Sàng lọc và chẩn đoán trước sinh – sơ sinh lần IV”, BS CK II Bùi Thanh Vân – Đơn vị Chẩn đoán trước sinh (BV Từ Dũ) tỏ ra băn khoăn, vì cho đến nay, vẫn chưa có một quy trình chuẩn về tiến hành tầm soát và chẩn đoán trước sinh, nên nhiều dị tật bẩm sinh bị phát hiện chậm, khi tuổi thai đã lớn. Trong khi đó, một hành lang pháp lý cho các chỉ định giữ hay bỏ thai nhờ chẩn đoán trước sinh vẫn chưa được xây dựng. Ví dụ, trong trường hợp thai phụ nhiễm Rubella khi tuổi thai 16 – 20 tuần, bỏ hay để thai lại? Hoặc, những dị tật bẩm sinh được phát hiện muộn, thai có thể sống khi lấy ra và có chỉ định bỏ thai rõ ràng (não úng thủy nặng, cụt chi…), có nên chấm dứt thai kỳ không và bằng cách nào?

Tuy nhiên, một BS sản khoa khác cho rằng, không giống với việc nghiêm cấm nạo phá thai vì giới tính (hoàn toàn đơn giản và chính xác khi dựa vào quy định của nhiễm sắc thể giới tính), việc xây dựng một hành lang pháp lý rõ ràng cho chỉ định chấm dứt thai kỳ trong chẩn đoán trước sinh rất khó thực hiện. “Hở hàm ếch, sứt môi, sáu ngón là những bất thường không lớn, không ảnh hưởng đến cuộc sống của đứa bé sau này, nên sản phụ thường được tư vấn giữ lại thai. Nhưng chúng ta không phải là người trong cuộc, khó có thể thấu hiểu được những điều mà gia đình phải nhận, nhất là thai phụ”.

Nhiều BS cũng nêu ý kiến: Một hành lang pháp lý được đưa ra phải cân nhắc dựa trên rất nhiều yếu tố, trong đó phương tiện nào chẩn đoán để xác định một cách chắc chắn. Nhiều trường hợp nằm trong chỉ định bỏ thai như hội chứng Down, nhưng người mẹ và gia đình vẫn cương quyết giữ lại vì nhiều lý do: tôn giáo, con quý do điều trị vô sinh… vậy phải xử trí như thế nào? Hay cũng có thể không có gì đặc biệt, nhưng nhiều bất thường nhẹ xuất hiện trên cùng một thai nhi có được coi là một bất thường nặng không?

Nạo phá thai “hợp pháp”?

Theo luật sư Võ Vương Quân – Đoàn Luật sư TP.HCM, ngoài việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình; hay mang thai có liên quan đến tính mạng, sức khỏe của sản phụ và trẻ sơ sinh (do tuổi tác của sản phụ quá nhỏ, không thể nuôi con sau khi sinh…) hoặc liên quan đến vấn đề xã hội do có thai ngoài ý muốn…, bỏ thai do phát hiện khuyết tật bẩm sinh là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc nạo phá thai. Sản phụ có quyền phá bỏ thai nhi theo chỉ định của BS vì các khuyết, dị tật bẩm sinh của thai nhi mắc phải và không thể chữa trị được như hội chứng Down, khuyết tật cấu trúc, dị dạng... Thậm chí, nếu khuyết tật, dị tật bẩm sinh của thai nhi mắc phải nhưng có thể chữa trị được như sứt môi, thính giác, thị giác… bố mẹ của thai nhi có quyền quyết định việc phá bỏ thai nhi sau khi có ý kiến tư vấn của BS. Nhưng ai dám chắc rằng, quyết định đó không phải vì thai nhi không có giới tính đúng như mong muốn của cha mẹ, dẫn đến nhiều hệ lụy khó lường?

Bỏ thai có thể gây ra những rủi ro cho bản thân thai phụ và tương lai sản khoa sau này như: băng huyết, nhiễm trùng, tổn thương cơ tử cung và những tạng vùng bụng, dính buồng tử cung, vô kinh thứ phát, vô sinh... Theo quy định tại khoản 3, điều 14 Bộ luật Dân sự 2005: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”. Và tại khoản 2, điều 31 quy định: “Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh và khai tử; nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử”. Căn cứ vào hai quy định nêu trên, bào thai chưa được xem là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2005. Còn căn cứ vào nội dung Luật Hình sự năm 1999, bào thai cũng không được xem là đối tượng điều chỉnh của Bộ luật này. Kiểm tra các quy định khác của pháp luật Việt Nam, gồm có: Luật Khám chữa bệnh số 40/2009/QH12; Luật số 25/2004/QH11 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Pháp lệnh số 06/2003/PL-UBTVQH11 về dân số ngày 9/1/2003 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung điều 10 của Pháp lệnh dân số 08/2008/PL-UBTVQH12 ngày 27/12/2008, không có quy định ngăn cấm việc nạo, phá thai khi BS phát hiện thai nhi có vấn đề khuyết tật trong quá trình siêu âm, và chưa có quy phạm pháp luật quy định đối tượng được bảo vệ là thai nhi. Ngoại trừ, nạo phá thai sẽ bị nghiêm cấm nếu cơ quan có thẩm quyền phát hiện nguyên nhân phá thai là do việc lựa chọn giới tính của thai nhi, nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức độ xử lý vi phạm hành chính và đối tượng bị xử lý là những người hành nghề không tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật hiện hành.

Còn theo một số quy định pháp luật của các nước trên thế giới như Anh, Pháp, Canada và hầu hết các nước thuộc châu Âu, nạo phá thai không bị cấm nhưng có những điều kiện hạn chế việc phá thai bằng những quy định một cách cụ thể như: Không được phá thai nếu thai nhi vẫn còn trong thời hạn đầu của thai kỳ (dưới ba tháng đầu tiên của thai kỳ), được sự đồng ý của ít nhất hai BS chuyên khoa hoặc hội đồng y khoa; sau khi sản phụ nhận được sự tư vấn đầy đủ của BS, thời gian ít nhất là sáu ngày kể từ ngày được tư vấn; thai nhi có khuyết tật bẩm sinh mà không thể chữa trị được...

Riêng Mỹ có quy định khác nhau tùy theo bang, có bang cấm phá thai nhưng có bang chỉ hạn chế việc phá thai nên việc phá thai phải tuân theo các điều kiện rất nghiêm ngặt, rõ ràng và cụ thể: phải được tư vấn hoặc có thời gian hòa dịu (cooling-off period) trước khi quyết định thực hiện việc phá thai; đối với phụ nữ dưới tuổi quy định (18 tuổi) thì phải có sự đồng ý của cha mẹ, người giám hộ hoặc ý kiến của tòa án. Đặc biệt, tại bang Texas của Mỹ, việc phá thai là đối tượng được điều chỉnh bởi Luật Hình sự. Còn tại một vài nước châu Á, Hàn Quốc, việc phá thai là vi phạm pháp luật.

An Quý

Tin mới